Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển dịch vụ hậu cần cho đánh bắt xa bờ tại tỉnh Quảng Ninh" được tác giả Đào Xuân Thắng thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam năm 2019, thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9 31 01 05), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Phượng Lê và PGS. Nguyễn Hữu Đạt.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Việt Nam sở hữu chiều dài bờ biển 3.260 km, hơn 1 triệu km² vùng đặc quyền kinh tế và 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ven biển chiếm 41% diện tích cùng 41,2 triệu dân (Ủy ban Kinh tế Quốc hội, 2013). Năm 2013, tổng sản lượng thủy sản cả nước đạt 6,05 triệu tấn, trong đó khai thác chiếm 2,71 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 7 tỷ USD; đội tàu cả nước khoảng 117.000 chiếc nhưng tàu có công suất từ 90 CV trở lên chỉ chiếm khoảng 28.000 chiếc. Tại tỉnh Quảng Ninh, bờ biển dài 250 km và diện tích vùng biển đạt 8.917 km², là một trong bốn ngư trường trọng điểm với trữ lượng hải sản ước tính 100.000 tấn/năm (trữ lượng xa bờ khoảng 40.000 tấn/năm). Tuy nhiên, tính đến năm 2012, trong tổng số 10.560 tàu thuyền khai thác thì hơn 7.000 tàu có công suất dưới 20 CV; số tàu đánh bắt xa bờ (ĐBXB) từ 90 CV trở lên chỉ chiếm 1,48%, sản lượng khai thác xa bờ đạt 21.664 tấn (chiếm 38% tổng sản lượng khai thác toàn tỉnh) (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh, 2016).
Thực trạng cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá (DVHCNC) của tỉnh bộc lộ nhiều bất cập: (i) Chưa có cảng cá chuyên dùng cho ĐBXB, chỉ có 5/8 khu neo đậu được đầu tư, 51 bến cá phân bố rải rác mang tính tự phát và thiếu người quản lý; (ii) Toàn bộ 133 chợ tại 14 huyện, thị xã, thành phố đều là chợ thương mại tổng hợp, chưa có chợ đầu mối thủy sản; (iii) Trong 103 cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu cá (CSĐM-SCTC) thì có 67,9% cơ sở quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu; (iv) 100% tàu dịch vụ hậu cần trên biển hình thành tự phát, trang thiết bị thô sơ; (v) Công tác quản lý nhà nước về dịch vụ hậu cần nghề cá ở cấp cơ sở còn nhiều hạn chế. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về công nghiệp hóa ngành thủy sản ở Nam Trung Bộ, khai thác xa bờ ở Cà Mau hay mô hình hậu cần tại miền Trung, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc phát triển DVHCNC cho ĐBXB dưới giác độ kinh tế và chính sách tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chung: Trên cơ sở phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng, luận án đề xuất hệ thống giải pháp phát triển DVHCNC cho ĐBXB tại tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận, làm rõ cơ sở thực tiễn về phát triển DVHCNC cho ĐBXB.
- Đánh giá thực trạng phát triển DVHCNC cho ĐBXB trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển DVHCNC cho ĐBXB tại tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển DVHCNC cho ĐBXB tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030.
Câu hỏi nghiên cứu:
- (i) Phát triển DVHCNC cho đánh bắt xa bờ là gì?
- (ii) Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng và hoạt động dịch vụ tại các cơ sở DVHCNC cho ĐBXB trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh như thế nào?
- (iii) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển DVHCNC cho ĐBXB tại Quảng Ninh?
- (iv) Để phát triển DVHCNC cho ĐBXB, tỉnh Quảng Ninh cần áp dụng những giải pháp nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển DVHCNC cho ĐBXB. Đối tượng khảo sát bao gồm cán bộ quản lý nhà nước các cấp; chủ tàu đánh bắt xa bờ; chủ tàu dịch vụ trên biển; hộ kinh doanh hải sản và ngư cụ tại chợ cá; chủ cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu cá; doanh nghiệp có tiềm lực tham gia đối tác công - tư (PPP).
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn 14 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Quảng Ninh; khảo sát thực tế tập trung tại 4 địa bàn trọng điểm gồm huyện Hải Hà, huyện Cô Tô, huyện Vân Đồn và thành phố Hạ Long.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2014–2017 (số liệu hiện trạng kinh tế - xã hội sử dụng chuỗi 2010–2015), điều tra khảo sát số liệu thực địa tiến hành năm 2016, các đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2030.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào cơ sở hạ tầng DVHCNC, các hoạt động cung cấp dịch vụ tại 5 loại hình cơ sở, các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp cơ chế, chính sách.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:
Các nghiên cứu tại Việt Nam
- Về phát triển ngành thủy sản: Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (Chính phủ, 2013a) xác định chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ số lượng sang chất lượng, áp dụng khoa học công nghệ đóng tàu vỏ mới và hình thành các trung tâm nghề cá lớn. Phan Thị Dung (2009) nghiên cứu giải pháp phát triển bền vững khai thác thủy sản duyên hải Nam Trung Bộ dưới góc độ kinh tế, xã hội, môi trường nhưng chưa đi sâu vào hậu cần. Lê Kim Chung (2003) nghiên cứu tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá Nam Trung Bộ.
- Về từng loại hình dịch vụ hậu cần: Nguyễn Thị Thu Hà (2013) phân tích nguồn vốn phát triển cảng biển và nguyên nhân khó thu hút nguồn vốn tư nhân, FDI. Trần Đức Phú (2007) khảo sát quy trình khai thác lưới vây cá ngừ tại Cà Mau có đề cập đến hậu cần nhưng ở mức sơ lược. Nguyễn Thị Thu Hương (2008) nghiên cứu công nghệ chế biến thủy sản xuất khẩu tại Đà Nẵng. Đề tài cấp bộ của Nguyễn Phi Toàn (2014) tập trung xây dựng mô hình tàu dịch vụ hậu cần cho nghề khai thác hải sản xa bờ vùng biển miền Trung.
- Về dịch vụ logistics tổng thể: Đặng Đình Đào (2010, 2018) nghiên cứu phát triển dịch vụ logistics trong hội nhập quốc tế; Đoàn Thị Hồng Vân (2003, 2010) hệ thống hóa cơ sở lý luận quản trị logistics; Đinh Lê Hải Hà (2013) và Bùi Duy Linh (2018) phân tích thực trạng và năng lực cạnh tranh của ngành logistics Việt Nam.
Các nghiên cứu nước ngoài và bài học kinh nghiệm quốc tế
- Nghiên cứu chuỗi cung ứng nghề cá: Hameri et al. (2003) đánh giá tính đặc thù của chuỗi cung ứng thủy sản tại Iceland nhằm tối ưu hóa chi phí. Taras Gagalyuk et al. (2009) khảo sát thực nghiệm 90 nhà bán lẻ thủy sản chuyên ngành tại Đức để xác định các yếu tố thành công của mạng lưới chuỗi cung ứng cá. Toke et al. (2010) ứng dụng mô hình toán học mô phỏng phân phối và xử lý nguyên liệu thủy sản.
- Cơ sở thực tiễn quốc tế:
- Thái Lan: Theo FAO (2009, 2012) và Khomnamool (2001), Tổ chức Marketing Thủy sản (FMO, thành lập năm 1953) quản lý hệ thống chợ cá trung tâm (như chợ Bangkok thành lập năm 1952) thực hiện đấu giá, kho lạnh và cung cấp dịch vụ công. Thái Lan đã phát triển 12 cảng cá phức hợp tích hợp neo đậu, sửa chữa và chế biến.
- Philippines: Theo Gilberto et al. (2005), Cơ quan Quản lý Cảng Philippines (PPA, thành lập năm 1974) vận hành 115 cảng công và giám sát hơn 500 cảng tư nhân, áp dụng mô hình nhượng quyền thương mại dài hạn cho khu vực tư nhân, kết hợp các cơ quan quản lý độc lập (IPA) và hệ thống cầu cảng RORO kết nối giao thông đảo.
- Nhật Bản: Christian (2003), Takahiro (2011), Yadava và Sato (2008) chỉ ra vai trò của Hiệp hội Hợp tác xã Ng nghiệp (FCA) trong việc bảo đảm đầu vào, tín dụng và tiêu thụ; phân chia hệ thống cảng cá thành 4 loại (loại I địa phương, loại II liên quận, loại III là 13 cảng trọng điểm quốc gia, loại IV phục vụ đảo xa).
- Trung Quốc: Theo Bộ Nông nghiệp Trung Quốc (2017), trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2010–2015), nước này có 162 doanh nghiệp ĐBXB với gần 2.900 tàu xa bờ, sản lượng đạt 1,99 triệu tấn; thành công nhờ khuyến khích doanh nghiệp tư nhân sáp nhập, thành lập các tập đoàn và hạm đội viễn dương quy mô lớn, nhà nước mua lại tàu cũ và hỗ trợ chuyển đổi nghề cho ngư dân cá thể.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chỉ phân tích logistics chung hoặc nghiên cứu kỹ thuật khai thác đơn lẻ tại các vùng biển khác. Chưa có công trình nào đánh giá đồng bộ hệ thống hạ tầng và chất lượng dịch vụ của 5 loại hình cơ sở DVHCNC dưới góc độ kinh tế phát triển và chính sách công tại Quảng Ninh; đồng thời chưa có nghiên cứu nào phân tích định lượng các yếu tố tác động đến khả năng tham gia của khu vực tư nhân vào mô hình PPP trong lĩnh vực dịch vụ hậu cần nghề cá.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm vận dụng
- Khái niệm Đánh bắt xa bờ: Căn cứ Quyết định số 393/TTg (1997) của Thủ tướng Chính phủ, ĐBXB là hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ngoài đường đẳng sâu 30 m (đối với Vịnh Bắc Bộ, Nam Bộ, Vịnh Thái Lan) hoặc ngoài đường đẳng sâu 50 m (đối với vùng biển miền Trung), sử dụng tàu có công suất máy chính từ 90 CV trở lên và có đăng ký, giấy phép hành nghề ĐBXB. Thời gian mỗi chuyến biển kéo dài từ 7–10 ngày đến 1–2 tháng.
- Khái niệm và cấu trúc DVHCNC cho ĐBXB: Kế thừa Luật Thương mại (2005), quan điểm của Đoàn Thị Hồng Vân (2003), Nguyễn Thâm (2004), Ninh Thị Thu Thủy (2014) và Trần Thị Kiệm (2015), luận án xác định nội hàm phát triển DVHCNC cho ĐBXB gồm 2 nội dung chính:
- Phát triển cơ sở hạ tầng DVHCNC: Sự gia tăng số lượng, mở rộng quy mô, nâng cấp công nghệ của 5 loại hình cơ sở: (1) Cảng cá, bến cá, khu neo đậu; (2) Cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu cá; (3) Chợ cá (đặc biệt là chợ đầu mối thủy sản); (4) Tàu dịch vụ hậu cần trên biển; (5) Đài thông tin duyên hải.
- Phát triển hoạt động cung cấp dịch vụ: Sự nâng cao về số lượng, cơ cấu và chất lượng của 5 nhóm hoạt động: dịch vụ neo đậu trú tránh bão; dịch vụ cung ứng đầu vào (nhiên liệu, nước đá, nước ngọt, thực phẩm, ngư cụ); dịch vụ thu mua và sơ chế hải sản; dịch vụ đóng mới và sửa chữa tàu thuyền; dịch vụ thông tin liên lạc, tìm kiếm cứu nạn và dự báo ngư trường.
- Vai trò của DVHCNC: (1) Thúc đẩy ĐBXB, nâng cao sản lượng khai thác; (2) Giảm tổn thất sau thu hoạch (thực tế phương pháp ướp đá truyền thống gây tổn thất 20–30%, tương đương 250 triệu USD theo tính toán của ngành); (3) Giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho cư dân ven biển; (4) Góp phần bảo vệ an ninh và chủ quyền biển đảo.
- Đặc điểm của DVHCNC: Đòi hỏi tính đồng bộ cao; đan xen giữa khu vực công và khu vực tư; nhu cầu vốn đầu tư lớn; địa bàn hoạt động rộng lớn, phụ thuộc thời tiết và độ rủi ro cao; gắn liền với năng lực của đội tàu khai thác.
Hệ thống chỉ tiêu phân tích
- Chỉ tiêu cơ sở hạ tầng: Phân loại cảng cá loại I và loại II theo Nghị định số 80/2012/NĐ-CP (diện tích đất, công suất cập tàu, luồng lạch, trang thiết bị bốc dỡ); phân hạng chợ cá theo Văn bản hợp nhất số 11/2014/VBHN-BCT của Bộ Công Thương; đánh giá cơ sở đóng sửa tàu gỗ theo Thông tư số 26/2014/TT-BNNPTNT; đánh giá tàu dịch vụ theo năng lực vận tải, công nghệ bảo quản; đánh giá đài thông tin duyên hải theo Quyết định số 269/TTg.
- Chỉ tiêu hoạt động và kết quả: Số lượt tàu thuyền cập cảng; khối lượng hàng hóa, nhiên liệu cung ứng; sản lượng hải sản tiêu thụ qua cảng/chợ; chi phí, giá cả và mức độ thỏa mãn của chủ tàu; doanh thu và lợi nhuận của cơ sở cung cấp dịch vụ.
Phương pháp thu thập dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, số liệu của Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy sản, các đề án quy hoạch của UBND tỉnh và văn bản của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT từ năm 2010 đến 2016.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập năm 2016 thông qua phiếu điều tra bảng hỏi cấu trúc và phỏng vấn chuyên sâu 6 nhóm đối tượng với tổng quy mô mẫu điều tra là 410 cá nhân, tổ chức tại 4 huyện/thị/thành phố (Hải Hà, Cô Tô, Vân Đồn, TP. Hạ Long).
| TT | Nhóm đối tượng điều tra | Số lượng mẫu (phiếu) |
|---|---|---|
| 1 | Cán bộ quản lý nhà nước (Sở, Chi cục, ban quản lý cảng, chợ, đài thông tin) | 30 |
| 2 | Chủ tàu khai thác hải sản đánh bắt xa bờ | 140 |
| 3 | Chủ tàu dịch vụ hậu cần trên biển | 30 |
| 4 | Hộ kinh doanh hải sản và ngư cụ tại các chợ cá | 30 |
| 5 | Chủ cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu cá | 30 |
| 6 | Chủ doanh nghiệp có điều kiện tham gia đầu tư theo mô hình PPP | 150 |
| Tổng cộng | Toàn bộ 6 nhóm mẫu khảo sát | 410 |
Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả và so sánh: Tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ tăng trưởng liên hoàn và định gốc giai đoạn 2010–2016.
- Phương pháp định tính: Tổng hợp ý kiến thảo luận nhóm tập trung, thông tin phỏng vấn sâu tại 9 hộp thông tin thực địa minh họa về ô nhiễm môi trường, chi phí neo đậu, vướng mắc giải phóng mặt bằng và tiếp cận vốn tín dụng.
- Phương pháp định lượng: Sử dụng thang đo Likert 5 mức độ; phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) và phân tích hồi quy đa biến nhằm kiểm định các nhóm nhân tố tác động đến chất lượng DVHCNC và mức độ sẵn sàng tham gia hình thức PPP của các doanh nghiệp tư nhân. Toàn bộ dữ liệu được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 18.0.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá cho đánh bắt xa bờ
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận, bản chất kinh tế và nội dung nghiên cứu phát triển DVHCNC cho ĐBXB dưới góc độ kiến tạo của Nhà nước. Tác giả luận giải việc phát triển DVHCNC phải đồng thời diễn ra trên cả phương diện hạ tầng cơ sở và phương diện các hoạt động dịch vụ hỗ trợ. Đi sâu phân tích vai trò của DVHCNC, chương này chỉ ra rằng bên cạnh đóng góp tăng trưởng kinh tế, DVHCNC giữ vai trò giảm thiểu 20–30% tổn thất sau thu hoạch (hiện gây thiệt hại khoảng 250 triệu USD mỗi năm cho toàn ngành thủy sản Việt Nam) và tạo điểm tựa an ninh quốc phòng trên biển.
Từ việc khảo cứu mô hình tổ chức của Thái Lan (vai trò của FMO, chợ đầu mối tập trung và 12 cảng cá phức hợp), Philippines (mô hình nhượng quyền tư nhân PPA, kết nối RORO), Nhật Bản (mô hình hợp tác xã FCA và phân hạng 4 cấp độ cảng cá) và Trung Quốc (chính sách khuyến khích sáp nhập doanh nghiệp tư nhân hình thành các hạm đội xa bờ quy mô lớn), chương 1 đúc rút các bài học kinh nghiệm về vai trò quy hoạch, chính sách hỗ trợ vốn ban đầu của Nhà nước, việc tiêu chuẩn hóa cơ sở dịch vụ và sự cần thiết phải áp dụng đối tác công - tư để phát triển hạ tầng nghề cá đồng bộ.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết phương pháp luận, khung phân tích (minh họa tại Hình 3.1) và thiết kế nghiên cứu. Tác giả luận chứng việc lựa chọn tỉnh Quảng Ninh làm địa bàn nghiên cứu dựa trên các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tiềm năng ngư trường với 100.000 tấn trữ lượng hải sản. Để đảm bảo tính đại diện, nghiên cứu chọn 4 địa bàn khảo sát cụ thể: huyện Vân Đồn (trung tâm tàu thuyền và cảng Cái Rồng), huyện Cô Tô (ngư trường tiền tiêu, khu neo đậu đảo), huyện Hải Hà (vùng biển Quảng Hà - Phú Hải) và thành phố Hạ Long (đô thị tiêu thụ, chợ đầu mối kinh doanh và các cơ sở đóng sửa tàu thuyền).
Chương này công bố hệ thống chỉ tiêu phân tích cụ thể, quy trình thu thập thông tin thứ cấp, phương pháp chọn mẫu khảo sát ngẫu nhiên phân tầng đối với 410 đối tượng thuộc 6 nhóm mẫu. Quy trình phân tích số liệu trên phần mềm SPSS 18 được thuyết minh rõ ràng từ việc kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA đối với chất lượng dịch vụ và mức độ sẵn sàng tham gia PPP của khu vực tư nhân, đến việc ứng dụng mô hình hồi quy để lượng hóa tác động của các yếu tố hậu cần tới hiệu quả chuyến biển của ngư dân.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 tập trung trình bày các dữ liệu thực chứng và kết quả phân tích định tính kết hợp định lượng về thực trạng phát triển DVHCNC tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014–2016:
1. Thực trạng cơ sở hạ tầng DVHCNC
- Hệ thống cảng cá, bến cá, khu neo đậu: Đến năm 2016, tỉnh Quảng Ninh chưa xây dựng được cảng cá chuyên dùng loại I phục vụ riêng cho ĐBXB. Các cảng hiện có như cảng Cái Rồng (Vân Đồn) và cảng Cô Tô vừa thiếu trang thiết bị bốc dỡ cơ giới hóa, vừa xảy ra xung đột không gian giữa tàu khách du lịch và tàu đánh cá. Toàn tỉnh có 51 bến cá thì 100% là bến tự phát, không có hệ thống xử lý nước thải, bùn cát bồi lắng nghiêm trọng. Chỉ có 5/8 khu neo đậu tránh trú bão được triển khai đầu tư nhưng tiến độ kéo dài do thiếu vốn ngân sách và vướng mắc giải phóng mặt bằng.
- Hạ tầng chợ cá: Trong tổng số 133 chợ thương mại trên địa bàn toàn tỉnh, không có chợ nào là chợ đầu mối thủy sản chuyên dùng. Hoạt động mua bán hải sản tại các chợ truyền thống phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống đầu nậu, trung gian thương lái; thiếu hệ thống cấp đông, kho lạnh bảo quản tiêu chuẩn dẫn đến giá trị gia tăng thấp.
- Cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu cá: Tỉnh có 103 cơ sở nhưng 67,9% thuộc quy mô hộ cá thể nhỏ lẻ, trang thiết bị thi công thô sơ, triền đà kéo tàu công suất thấp. Nhiều chủ tàu đóng mới theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP đã phải đưa tàu vào các tỉnh Duyên hải Miền Trung để đóng mới do các cơ sở tại Quảng Ninh không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật và tiến độ đóng tàu vỏ thép/vỏ gỗ lớn.
- Tàu dịch vụ hậu cần trên biển: 100% tàu dịch vụ hình thành mang tính tự phát. Mỗi tàu thường chỉ cung cấp đơn lẻ một loại hình (hoặc bán dầu, hoặc bán đá, hoặc thu mua cá), chưa tổ chức được mô hình cung ứng - thu mua trọn gói khép kín ngay tại ngư trường, dẫn đến chi phí vận hành cao và hiệu quả hỗ trợ đội tàu ĐBXB còn thấp.
- Đài thông tin duyên hải: Đã thực hiện tốt công tác truyền phát cảnh báo bão và thiên tai; tuy nhiên hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng được việc phát bản tin dự báo ngư trường dài ngày, thông tin dòng chảy luồng cá và thông tin giá cả thị trường tiêu thụ hải sản.
2. Thực trạng các hoạt động cung cấp dịch vụ
Các dịch vụ hỗ trợ tại cảng hiện chỉ dừng lại ở mức neo đậu cơ bản; dịch vụ sơ chế, kho lạnh, bảo quản, kiểm định an toàn thực phẩm và dịch vụ ăn nghỉ cho thuyền viên hầu như chưa phát triển. Tại các chợ, 85% chủ tàu không trực tiếp đưa hải sản vào chợ bán mà phải bán xô cho thương lái ngay tại bến do thiếu phương tiện xếp dỡ cơ giới và sợ bị ép giá. Tình trạng quá tải cục bộ tại các triền đà sửa chữa tàu diễn ra thường xuyên vào mùa giông bão.
3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển DVHCNC
Kết quả xử lý mô hình EFA và hồi quy chỉ ra 6 nhóm nhân tố tác động then chốt: (1) Chính sách phát triển của Trung ương và địa phương; (2) Công tác lập và quản lý quy hoạch; (3) Nguồn lực đầu tư từ khu vực công (được xác định là yếu tố có tác động mạnh nhất đến sự tắc nghẽn hạ tầng); (4) Khả năng thu hút đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP); (5) Năng lực quản trị của các chủ cơ sở dịch vụ; (6) Sự sẵn có của hệ thống dịch vụ tại các tỉnh lân cận (Hải Phòng, Nam Định); bên cạnh yếu tố bất thường của thời tiết và an ninh trên biển. Phân tích sự tham gia của 150 doanh nghiệp vào PPP cho thấy các biến số: chính sách ưu đãi đầu tư, tính minh bạch của thủ tục dự án, cam kết trách nhiệm của chính quyền và khung pháp lý rõ ràng là các điều kiện tiên quyết chi phối quyết định đầu tư.
4. Định hướng và hệ thống giải pháp đến năm 2030
Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách chung: Tập trung nguồn vốn ngân sách đầu tư công dứt điểm cho 02 công trình hạ tầng động lực gồm Cảng cá chuyên dùng và Chợ đầu mối thủy sản tỉnh Quảng Ninh; ban hành chính sách ưu đãi đất đai, thuế để thu hút tư nhân tham gia đầu tư hạ tầng theo hình thức PPP; đổi mới tổ chức sản xuất bằng cách hỗ trợ sáp nhập các hộ cá thể thành các doanh nghiệp khai thác lớn, hình thành các tập đoàn hoặc liên minh hạm đội đánh bắt xa bờ.
- Nhóm giải pháp cho 5 loại hình cơ sở dịch vụ: Hiện đại hóa trang thiết bị bốc dỡ cơ giới tại cảng Cái Rồng và Cô Tô; xây dựng chợ đầu mối gắn với sàn đấu giá hải sản; quy hoạch gom cụm các cơ sở đóng sửa tàu thuyền vào khu công nghiệp chuyên ngành; tổ chức lại đội tàu dịch vụ theo hướng đa năng (vừa cung cấp nhiên liệu, nước đá, vừa thu mua hải sản bảo quản lạnh); nâng cấp đài thông tin duyên hải tích hợp bản tin dự báo ngư trường và thị trường.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm nội hàm khái niệm phát triển DVHCNC cho ĐBXB dưới góc độ kinh tế phát triển và vai trò kiến tạo của Nhà nước. Khẳng định phát triển DVHCNC không chỉ là sự gia tăng đơn thuần về mặt số lượng cơ sở vật chất (chiều rộng) mà cốt lõi là sự nâng cao chất lượng dịch vụ, hiện đại hóa công nghệ bảo quản, tối ưu hóa chi phí vận hành và tính đồng bộ giữa các khâu trên bờ và ngoài khơi (chiều sâu).
- Xác định và chuẩn hóa hệ thống tiêu chí đánh giá cho 5 loại hình cơ sở hạ tầng (cảng cá, chợ cá, cơ sở đóng tàu, tàu dịch vụ trên biển, đài thông tin) kết hợp 5 nhóm hoạt động dịch vụ tương ứng phục vụ trực tiếp cho ĐBXB.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện, có hệ thống về thực trạng hạ tầng và dịch vụ nghề cá tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014–2016, chỉ rõ nguyên nhân khiến nghề cá Quảng Ninh chưa thể bứt phá xa bờ là do sự thiếu hụt cảng cá chuyên dùng và chợ đầu mối thủy sản, cùng tình trạng phát triển tự phát, quy mô nhỏ của các cơ sở tư nhân.
- Lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ và xác định đầu tư công cùng cơ chế thu hút tư nhân qua mô hình PPP là giải pháp then chốt để tháo gỡ điểm nghẽn nguồn vốn hạ tầng.
- Đề xuất luận cứ khoa học để tỉnh Quảng Ninh ban hành các chính sách đặc thù: khuyến khích tái cơ cấu tổ chức đánh bắt từ mô hình kinh tế hộ gia đình manh mún sang mô hình doanh nghiệp/tập đoàn hạm đội xa bờ nhằm tối ưu hóa chi phí logistics nghề cá đến năm 2030.
Đóng góp về mặt phương pháp luận
- Kết hợp đồng bộ phương pháp định tính và phương pháp định lượng hiện đại (thang đo Likert, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đa biến trên phần mềm SPSS 18.0) vào nghiên cứu kinh tế ngành dịch vụ hậu cần nghề cá cấp tỉnh. Thiết kế và kiểm định thành công bộ thang đo đánh giá các rào cản tham gia PPP của doanh nghiệp tư nhân trong đầu tư hạ tầng cảng, chợ cá.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Những hạn chế của luận án
Theo công bố của chính tác giả trong văn bản, luận án tồn tại một số hạn chế khách quan:
- Nội dung nghiên cứu bao quát một phạm vi rộng với 5 loại hình cơ sở dịch vụ và 5 nhóm hoạt động dịch vụ kỹ thuật khác nhau, do đó nghiên cứu chưa thể đi sâu vào chi tiết kỹ thuật vận hành đặc thù của từng loại hình chuyên biệt.
- Đối tượng điều tra khảo sát có tính chất không đồng nhất giữa các nhóm (cán bộ quản lý nhà nước, chủ tàu đánh cá, thương lái chợ, chủ xưởng đóng tàu, doanh nghiệp tiềm năng), quy mô mẫu của một số nhóm nhỏ (30 mẫu/nhóm) nên không thể áp dụng chung một mô hình phân tích nhân tố EFA duy nhất cho toàn bộ các nhóm đối tượng mà phải chia tách xử lý cục bộ.
- Do hệ thống hạ tầng DVHCNC tại Quảng Ninh trong giai đoạn khảo sát còn thiếu thốn và phát triển không đồng bộ, đề tài mới chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu bài toán "phát triển" nhằm đáp ứng các nhu cầu tối thiểu của nghề cá xa bờ, mà chưa có đủ điều kiện thực tiễn để nghiên cứu sâu về khía cạnh "phát triển bền vững" (gồm các tiêu chuẩn sinh thái, cân bằng môi trường và khai thác gắn với chứng chỉ trách nhiệm).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu chuyên sâu về mô hình tài chính và phân chia rủi ro trong hợp đồng đối tác công - tư (PPP) áp dụng cho từng dự án cảng cá chuyên dùng và chợ đầu mối thủy sản cụ thể.
- Mở rộng nghiên cứu chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng lạnh khép kín (cold chain) từ ngư trường đánh bắt xa bờ đến các thị trường chế biến xuất khẩu và bán lẻ nội địa.
- Đánh giá tính bền vững về mặt sinh thái học và truy xuất nguồn gốc hải sản (chống khai thác IUU) trong hoạt động cung ứng dịch vụ hậu cần nghề cá khi hạ tầng đã hoàn thiện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh cùng UBND các huyện ven biển có thể ứng dụng trực tiếp các số liệu điều tra, khung phân tích nhân tố và các đề xuất giải pháp để rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển thủy sản đến năm 2030; xây dựng đề án kêu gọi đầu tư PPP cho cảng Cái Rồng, Cô Tô và chợ cá đầu mối.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy thuộc các chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị logistics và Kinh tế biển. Bộ công cụ điều tra 6 nhóm đối tượng và quy trình ứng dụng EFA trong đo lường mức độ sẵn sàng hợp tác công - tư là tài liệu tham khảo phương pháp luận bổ ích.
- Doanh nghiệp và chủ tàu: Cung cấp thông tin thị trường, thực trạng chi phí dịch vụ, năng lực cung ứng của các cơ sở triền đà đóng tàu và tàu hậu cần trên biển, giúp các nhà đầu tư nhận diện cơ hội liên kết hình thành các đội tàu dịch vụ đa năng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án căn cứ vào tiêu chuẩn pháp lý nào để xác định tàu đánh bắt xa bờ và phân loại cảng cá?
Tác giả căn cứ vào Quyết định số 393/TTg ngày 09/6/1997 của Thủ tướng Chính phủ quy định tàu đánh bắt xa bờ là tàu lắp máy chính có công suất từ 90 CV trở lên, hoạt động ngoài vùng biển có đường đẳng sâu 30 m (đối với Vịnh Bắc Bộ, Nam Bộ) hoặc 50 m (đối với miền Trung). Về cảng cá, luận án căn cứ Nghị định số 80/2012/NĐ-CP của Chính phủ phân định cảng cá loại I (diện tích từ 4 ha trở lên, trên đảo từ 1 ha; lượng hàng qua cảng từ 15.000 tấn/năm, trên đảo từ 3.000 tấn/năm) và cảng cá loại II (diện tích từ 2,5 ha trở lên; lượng hàng từ 7.000 tấn/năm, trên đảo từ 1.000 tấn/năm).
2. Thực trạng hệ thống hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá tỉnh Quảng Ninh giai đoạn khảo sát có những tồn tại then chốt nào?
Theo số liệu công bố tại văn bản: (1) Tỉnh chưa có cảng cá chuyên dùng loại I cho ĐBXB, chỉ có 5/8 khu neo đậu được xây dựng, 51 bến cá hoàn toàn tự phát và thiếu quản lý; (2) 100% trong số 133 chợ là chợ thương mại thông thường, chưa có chợ đầu mối thủy sản; (3) 67,9% trong tổng số 103 cơ sở đóng sửa tàu có quy mô nhỏ, công nghệ thô sơ, thiếu triền đà lớn; (4) 100% tàu dịch vụ hậu cần trên biển phát triển tự phát, chỉ làm một dịch vụ đơn lẻ; (5) Đài thông tin duyên hải chưa phát được bản tin dự báo ngư trường và thông tin thị trường giá cả hải sản.
3. Cơ cấu mẫu điều tra thực tế của luận án được phân bổ như thế nào?
Luận án tiến hành điều tra khảo sát thực địa năm 2016 trên 4 địa bàn trọng điểm (Hải Hà, Cô Tô, Vân Đồn, Hạ Long) với 410 mẫu phiếu thuộc 6 nhóm: 30 cán bộ quản lý nhà nước; 140 chủ tàu đánh bắt xa bờ; 30 chủ tàu dịch vụ trên biển; 30 hộ kinh doanh hải sản và ngư cụ tại chợ; 30 chủ cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu cá; 150 chủ doanh nghiệp có năng lực tham gia đầu tư đối tác công - tư (PPP).
4. Nhân tố nào được luận án xác định có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển của hệ thống DVHCNC tại địa phương?
Kết quả phân tích định lượng EFA và thảo luận chuyên gia chỉ ra rằng yếu tố "Nguồn lực từ khu vực công" (cụ thể là chính sách và nguồn vốn đầu tư công của Nhà nước) là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất. Do đặc thù các công trình cảng cá, khu neo đậu và chợ đầu mối đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu rất lớn nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp, khu vực tư nhân không thể tự đầu tư nếu Nhà nước không chi ngân sách xây dựng hạ tầng khung ban đầu và ban hành chính sách ưu đãi kêu gọi hợp tác PPP rõ ràng.
5. Luận án đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất nào nhằm thay đổi căn bản quy mô khai thác hải sản xa bờ tại Quảng Ninh?
Tác giả đề xuất Nhà nước và chính quyền địa phương cần ban hành cơ chế hỗ trợ, khuyến khích sáp nhập, mua lại và tái cơ cấu các hộ gia đình cá thể làm nghề đánh bắt xa bờ nhằm hình thành các doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế biển quy mô lớn. Chỉ khi hình thành được các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính để tổ chức các "hạm đội đánh bắt xa bờ", việc đầu tư tàu mẹ làm dịch vụ hậu cần đa năng khép kín trên biển và xây dựng cảng cá, chợ đầu mối hiện đại mới có thể thực hiện hiệu quả bằng nguồn vốn tư nhân.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Xuân Thắng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá cho đánh bắt xa bờ tại một địa bàn trọng điểm kinh tế biển là tỉnh Quảng Ninh. Thông qua việc phân tích thực trạng yếu kém, thiếu đồng bộ của 5 loại hình cơ sở dịch vụ và xử lý mô hình định lượng các yếu tố cản trở đầu tư, tác giả đã khẳng định nút thắt then chốt nằm ở hạ tầng công và cơ chế đối tác công - tư. Hệ thống giải pháp hai nhóm đề xuất đến năm 2030 cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp tỉnh Quảng Ninh định hướng đầu tư trọng điểm vào cảng cá chuyên dùng, chợ đầu mối thủy sản và tái cấu trúc mô hình hạm đội khai thác viễn dương.