phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề án được kết cấu thành 3 phần, bao gồm : Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án phát triển dịch vụ chứng khoán tại công ty chứng khoán Phần 2: Thực trạng phát triển dịch vụ chứng khoán của Công ty Cổ phần Chứng khoán VPS Phần 3: Đề xuất và kiến nghị phát triển dịch vụ chứng khoán tại Công ty Cổ phần Chứng khoán VPS 7 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ chứng khoán của công ty chứng khoán 1. Khái niệm chung Khái niệm công ty chứng khoán Theo thông tư 210/2012/TT-BTC, “công ty chứng khoán (CTCK) là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ : môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.” Khái niệm dịch vụ chứng khoán Dịch vụ chứng khoán là dịch vụ mà CTCK cung cấp cho khách hàng để tạo mở tài khoản, thực hiện các giao dịch, hỗ trợ tài chính.
Các loại hình dịch vụ chứng khoán của công ty chứng khoán Dịch vụ môi giới chứng khoán Theo Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, “Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.” Dịch vụ môi giới chứng khoán là một loại dịch vụ tài chính mà CTCK cung cấp, nhằm hỗ trợ NĐT trong việc mua bán các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, và các sản phẩm tài chính khác trên thị trường chứng khoán. Dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán Theo Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc cam kết với tổ chức phát hành nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết hoặc cố gắng tối đa để phân phối số chứng khoán cần phát hành của tổ chức phát hành.” Dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán là một loại dịch vụ tài chính mà các CTCK cung cấp để hỗ trợ các doanh nghiệp hoặc tổ chức phát hành chứng khoán (như cổ phiếu hoặc trái phiếu) ra công chúng hoặc trên thị trường tài chính. Dịch vụ tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán Theo Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, “Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc cung cấp cho khách hàng kết quả phân tích, báo cáo phân tích và đưa ra khuyến nghị liên quan đến việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán.” Dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán 8 là một loại dịch vụ tài chính mà các CTCK cung cấp cho khách hàng kết quả phân tích, báo cáo phân tích và đưa ra khuyến nghị liên quan đến việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán. Dịch vụ quản lý danh mục đầu tƣ Theo Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, “Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là hoạt động quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán và các tài sản khác của nhà đầu tư.” Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư là hoạt động trong đó các CTCK sẽ quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua bán và nắm giữ hộ tổ hợp chứng khoán cho khách hàng và vì lợi ích của khách hàng.
Các dịch vụ khác Dịch vụ lưu ký chứng khoán là một loại dịch vụ tài chính mà các tổ chức lưu ký (thường là các CTCK, ngân hàng, hoặc các tổ chức tài chính được ủy quyền) cung cấp để quản lý và bảo vệ chứng khoán của NĐT. Dịch vụ này bao gồm việc đăng ký, lưu trữ, và quản lý các chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, và các công cụ tài chính khác thay mặt cho khách hàng. Dịch vụ tài chính : Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của CTCK cho khách hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế chấp cho khoản vay đó. Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số còn lại sẽ do CTCK ứng trước tiền thanh toán.
Đến kỳ hạn đã thỏa thuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số chênh lệch cùng với lãi cho CTCK. Trường hợp khách hàng không trả được nợ, thì công ty có quyền sở hữu số chứng khoán đã mua. Tổ chức hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán Kinh doanh là một phạm trù kinh tế phổ biến và có phạm vi hết sức rộng rãi. Bao trùm thuật ngữ "kinh doanh" là tất cả các hoạt động kinh tế nhằm mục đích kiếm lời.
Nó bao gồm một không gian rộng lớn phủ đầy các hoạt động kinh tế thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau như: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, bảo hiểm, ngân hàng… Kinh doanh chứng khoán (KDCK) là một trong những dịch vụ đặc trưng của nền kinh tế thị trường gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK). Đó là những hoạt động mua bán chứng khoán và cung ứng dịch vụ của các tổ chức hoặc cá nhân cho khách hàng, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các giao dịch chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. 9 Theo Luật Chứng khoán năm 2019, “KDCK là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán”. Với khái niệm trên, hầu hết các nghiệp vụ KDCK (trừ nghiệp vụ tự doanh) đều là những loại hình kinh doanh dịch vụ.
Tùy thuộc vào khả năng tài chính cũng như các điều kiện đảm bảo khác theo quy định của luật pháp về KDCK, các tổ chức và cá nhân KDCK có quyền thực hiện một, một vài hoặc đồng thời tất cả các nghiệp vụ KDCK. Vì vậy, khi triển khai cung ứng các nghiệp vụ này, các tổ chức hoặc cá nhân KDCK đều phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể nhằm: tìm kiếm khách hàng mục tiêu, tư vấn hướng dẫn và chăm sóc khách hàng, thực hiện và báo cáo kết quả kinh doanh nghiệp vụ. CTCK hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc tài chính và nguyên tắc đạo đức - Nguyên tắc tài chính : + Mức vốn hoạt động : Công ty chứng khoán (CTCK) phải có đủ vốn theo quy định của pháp luật để đảm bảo nguồn tài chính trong các cam kết với khách hàng và có đủ năng lực tài chính để giải quyết những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh. Tùy thuộc vào nghiệp vụ kinh doanh mà đưa ra các mức vốn pháp định khác nhau : Môi giới chứng khoán : 25 tỷ đồng Tự doanh : 100 tỷ đồng Bảo lãnh phát hành : 165 tỷ đồng Tư vấn đầu tư chứng khoán : 10 tỷ đồng Kinh doanh cả 4 nghiệp vụ : 300 tỷ đồng + Cơ cấu vốn hợp lý, có khả năng thanh khoản và có chất lượng tốt để thực hiện kinh doanh với hiệu quả cao + Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: Các nguyên tắc về quản lý vốn và hạn mức kinh doanh khác nhau tùy theo nghiệp vụ mà CTCK thực hiện.
Các nguyên tắc về sử dụng vốn bao gồm: cơ cấu vốn, mức vốn khả dụng phải duy trì, trích lập quỹ bù đắp rủi ro, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ,. Đối với việc quản lý hạn mức kinh doanh, thông thường có các quy định để hạn chế rủi ro đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng như hạn chế các xung đột lợi ích có thể xảy ra. - Nguyên tắc đạo đức : 10 Đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động KDCK là tập hợp những chuẩn mực, cách cư xử, và ứng xử trong nghề nghiệp KDCK nhằm bảo vệ, tăng cường vai trò, tính tin cậy và niềm tự hào của nghề KDCK trong xã hội. Các chủ thể KDCK phải tuân thủ những nguyên tắc đạo đức sau: + Tổ chức KDCK phải hoạt động trên nguyên tắc trung thực, tận tụy, bảo vệ và vì quyền lợi, lợi ích hợp pháp của khách hàng, ưu tiên bảo vệ lợi ích của khách hàng trước lợi ích của chính mình.
+ Tổ chức KDCK phải có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng và chỉ được tiết lộ thông tin của khách hàng trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. + Tổ chức KDCK phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, không được sử dụng bất kì hành động lừa đảo phi pháp nào, có trách nhiệm có thể xảy ra xung đột lợi ích. + CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng. + CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình.
CTCK không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thể chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản. + CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu, đồng thời không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn + CTCK không được phép nhận bất kỳ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình Ngoài ra pháp luật cũng quy định những điều khoản về chống thao túng thị trường, giao dịch nội dán sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại tới lợi ích của khách hàng. Phát triển dịch vụ chứng khoán 1. Quan điểm về phát triển dịch vụ chứng khoán Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật theo khuynh hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Phát triển dịch vụ là quá trình tạo ra, cải tiến hoặc mở rộng các dịch vụ hiện có nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, tăng cường hiệu quả hoạt động và 11 tạo ra giá trị gia tăng. Nói cách khác, phát triển dịch vụ là một quá trình liên tục nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp. Phát triển DVCK là quá trình mở rộng, cải tiến các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và gia tăng chất lượng DVCK của CTCK.