Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm và các điều khoản của tổ chức thương mại thế giới liên quan đến lĩnh vực dịch vụ Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam Chương 3: Các giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA WTO LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC DỊCH VỤ 1. Tổng quan về Bảo hiểm Bảo hiểm hiện đại đã ra đời sau một thời gian dài con người tìm cách để bảo vệ tài sản và những người thân của họ, qua một số hình thức chia sẻ rủi ro và sự cố gắng hợp tác với nhau. Trong xã hội bộ lạc xưa, một vài biện pháp bảo vệ đã được tìm thấy trong những nhóm người sống cùng nhau hay trong các ngôi làng. Khi xã hội ngày càng trở nên phức tạp hơn, giải pháp và kỹ thuật để đáp ứng các nhu cầu phức tạp ngày một tăng lên.
Hệ thống bảo hiểm hiện tại thông qua các chương trình và hợp đồng bảo hiểm đã phát triển để đáp ứng những yêu cầu đó. Bảo hiểm phi nhân thọ Hợp đồng bảo hiểm đầu tiên được biết đến là bảo hiểm thương mại. Ở nhiều nước, lịch sử đã chỉ ra những bằng chứng về những cố gắng để đưa ra các loại hợp đồng bảo hiểm để bảo vệ cho những lợi ích liên quan đến thương mại. Chẳng hạn, câu chuyện từ Trung Quốc cổ đại cách đây 3000 năm trước Công nguyên đã chỉ ra rằng, các thương gia người Trung Quốc đã nghĩ ra và áp dụng những nguyên tắc cơ bản về bảo hiểm.
Các thương gia này đã “bảo hiểm” để chống lại những tổn thất đối với hàng hóa được chuyên chở qua sông Giang Tử. Các dải đá ngầm và dốc nguy hiểm thường gây những tổn thất nặng nề. Thông thường, các hàng hóa này là toàn bộ gia tài của các chủ hàng. Lo lắng trước việc có thể mất toàn bộ tài sản, họ quyết định “bảo hiểm” bằng cách phân tán các rủi ro.
Họ lý giải rằng, giả sử có 100 thuyền hàng, mỗi thuyền có thể chở 100 kiện hàng, sẽ dừng lại trước các dải đá ngầm để các 6 thương gia chuyển lên mỗi thuyền 01 kiện hàng của mình. Như vậy, tổn thất của bất kỳ thuyền nào cũng chỉ là tổn thất duy nhất 01 kiện hàng đối với mỗi chủ hàng. Nếu chúng ta xem xét một giai đoạn khác của thế giới cổ đại, những hợp đồng bảo hiểm hiện còn tồn tại đã xuất hiện vào khoảng 2500 năm trước Công Nguyên cho thấy rất nhiều các thương gia buôn bán qua Địa Trung Hải đã bảo vệ chính mình khỏi những tổn thất về hàng hóa và các nô lệ trước những tàn phá của các cơn bão và hải tặc. Các hợp đồng này bảo đảm việc chi trả tiền cho bất kỳ tổn thất nào.
Khoảng năm 1700 trước Công Nguyên, Hammurabi, một vị vua vùng Babylon, đã soạn thảo một vài quy tắc mà đến nay vẫn còn lưu trữ. Nó bao gồm một số quy tắc phổ biến như „sự đền bù công bằng‟ và „hãy để khách hàng quyết định‟, cũng như các quy tắc về bảo hiểm. Việc sắp xếp các sự kiện trong Kinh thánh là một lĩnh vực tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu và các nhà khảo cổ. Tuy nhiên, khoảng 1000 năm trước Công nguyên, sự kiện mà chúng ta biết qua truyền thuyết về Joseph và nạn đói kém ở Ai Cập đã không xảy đến và một trong những hành động của Joseph, nhìn chung được coi như một ví dụ cho một kế hoạch bảo hiểm.
Khi đó, Pharaoh đã có một giấc mơ về 7 con bò béo đang bị ăn bởi 7 con bò gầy. Joseph đã lý giải điều này như một lời tiên tri về 7 năm vùng đất này sẽ giàu có được nối tiếp bởi 7 năm đói kém. Kết quả là ông cho xây dựng các nhà kho dự trữ đầy lương thực để có thể sử dụng cho mọi người trong những năm đói kém. Điều này chứng minh nguyên tắc bảo hiểm về việc thành lập quỹ dự trữ để dự phòng cho một tương lai không chắc chắn.
Những hợp đồng bảo hiểm ban đầu này đã nhận ra chức năng quan trọng của bảo hiểm. Đó là, một nhóm người liên kết với nhau có thể chia sẻ 7 tổn thất có thể xảy ra đối với tất cả mọi người, nhưng trong thực tế nó chỉ ảnh hưởng đến một vài cá nhân nào đó. Một ví dụ về điều này là việc bảo hiểm chống lại rủi ro về một thành viên trong nhóm chết trong một khoảng thời gian cụ thể. Có thể khái quát, bảo hiểm phi nhân thọ là một loại hình kinh doanh mà trong đó công ty bảo hiểm được nhận phí bảo hiểm, đồng thời phải trả cho người được bảo hiểm một số tiền hay một khoảng vật chất có giá trị tương đương tùy theo sự kiện xảy ra gây ra một tổn thất về tài chính.
Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm nhiều nghiệp vụ bảo hiểm như: bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, v. Bảo hiểm nhân thọ Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ sớm nhất bảo hiểm cho cuộc sống của các thủy thủ từ thế kỷ 16. Tên các thủy thủ được đưa vào trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hải (cùng với hàng hóa và tàu của họ). Các hợp đồng này được bảo hiểm cho suốt thời gian của cuộc hành trình hoặc trong một thời hạn nhất định, chẳng hạn một năm.
Các hợp đồng này giống như các hợp đồng bảo hiểm tai nạn và bệnh tật ngắn hạn mà ngày nay vẫn còn áp dụng. Sự ra đời của các quỹ bảo hiểm nhân thọ xuất hiện cùng thời với các hình thức bảo hiểm phi nhân thọ khác như bảo hiểm cháy, bảo hiểm hàng hải. Năm 1583, tại nước Anh, một thuyền trưởng tên William Gybbon đã nảy ra ý kiến yêu cầu công ty bảo hiểm ngoài việc bảo hiểm cho con tàu và hàng hóa của mình hãy bán thêm hợp đồng bảo hiểm sinh mạng cho chính mình. Sự việc này đã đòi hỏi các công ty bảo hiểm phi nhân thọ nhận thấy rằng “con người cũng có thể được bảo hiểm như những hàng hóa, tài sản khác”.
Đến năm 1662, John Graunt - một thanh niên trẻ tại London đã đăng tải một số bài 8 báo nói về số lượng người sinh và chết tại London. Ghi nhận tình cờ này đã được các nhà toán học thời đó quan tâm và nghĩ đến việc thành lập bảng tử lệ tử vong. Đây là một trong các công cụ rất hữu ích cho ngành bảo hiểm nhân thọ sau này. Trong khoảng 100 năm tiếp theo, các nhà toán học đã luôn trăn trở nghĩ ra cách tính phí của các sản phẩm BHNT.
Sản phẩm BHNT ban đầu được bán rộng rãi và không tính toán. Người ta mua bảo hiểm cho nhau và cũng tìm cách hại nhau để kiếm tiền bồi thường. Vì lí do đó, đến năm 1740, chính phủ Anh đã tập hợp các công ty bảo hiểm trên toàn quốc và ra chỉ thị các công ty chỉ được bán bảo hiểm theo nguyên tắc “quyền lợi có thể được bảo hiểm”, tức là người chủ hợp đồng bảo hiểm và người được bảo hiểm phải có quan hệ ruột thịt, hôn nhân hay bảo hộ hợp pháp. Tuy nhiên, bảo hiểm con người nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng bị cấm hoạt động tại ở châu Âu bởi các thế lực chính trị và nhà thờ thiên chúa giáo cho đến tận đầu thế kỷ 18.
Các thế lực này cho rằng bảo hiểm nhân thọ đã đẩy con người nhanh đến cái chết, là những hoạt động đi ngược lại với thuần phong mỹ tục và do vậy bảo hiểm nhân thọ bị pháp luật nghiêm cấm. Các nhà thờ thiên chúa giáo cũng kịch liệt lên án việc bảo hiểm cuộc sống con người vì họ cho rằng cuộc sống của con người là do chúa sáng tạo do vậy phụ thuộc vào chúa. Thế kỷ 18 và 19 là thời kỳ bảo hiểm nhân thọ phát triển mạnh mẽ. Năm 1762, Công ty BHNT Equitable là Công ty BHNT đầu tiên của Anh áp dụng phương pháp tính phí bảo hiểm và họ đã rất thành công.
Đầu thế kỷ 19, tại Bắc Mỹ, Công ty BHNT Pennsylvania bắt đầu dùng hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ cho khách hàng điền khi muốn tham gia bảo hiểm nhân thọ thay vì dùng sổ cái để theo dõi khách hàng như ban đầu. Ngoài ra, công ty còn yêu cầu khách hàng khám sức khỏe khi muốn tham gia bảo hiểm. Đây là chuyển biến lớn trong sự phát triển của ngành bảo hiểm nhân thọ. Tiếp theo đó, năm 9 1823, Công ty BHNT Massachusettes đã thiết kế ra quyển sổ tay tính phí.
Quyển sổ tay này hiện này vẫn được coi là cẩm nang hữu ích cho các đại lí bảo hiểm nhân thọ ngày nay. Năm 1844 đã đánh dấu thêm một bước tiến quan trọng khác của ngành bảo hiểm nhân thọ. Khi chứng kiến việc các khách hàng mua bảo hiểm vì một lí do nào đó muốn ngưng hợp đồng giữa chừng nhưng không được công ty bảo hiểm nào trả lại tiền cho họ, chuyên gia tính phí Elizur Wright người Mỹ cho rằng điều này là không công bằng và hợp lí. Từ đó, ông đã nghĩ ra công thức toán học tính giá trị giải ước để hoàn lại một phần phí cho khách hàng.
Từ những bước phát triển trên có thể thấy bảo hiểm nhân thọ đã ra đời và phát triển để đáp ứng những nhu cầu của con người. Tuy nhiên do nhu cầu của con người luôn thay đổi theo sự phát triển của xã hội, kinh tế do vậy cách hiểu của mọi người và phạm vi bảo hiểm của các sản phẩm BHNT cũng rất khác nhau. Theo tiến sỹ David Bland - Tổng giám đốc học viện bảo hiểm hoàng gia Anh thì “bảo hiểm nhân thọ là hình thức bảo hiểm mà rủi ro liên quan đến mạng sống của người được bảo hiểm”. Theo luật kinh doanh bảo hiểm của nước CHXHCN Việt Nam, “bảo hiểm nhân thọ là hình thức bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”.
Hai khái niệm này đều có điểm chung là nhấn mạnh đến các yếu tố liên quan đến đối tượng của bảo hiểm: tuổi thọ, sự kiện sống hoặc tử vong. Về bản chất, các khái niệm này được đưa ra trên phương diện kỹ thuật bảo hiểm và nhấn mạnh vào phạm vi bảo hiểm truyền thống sơ khai của bảo hiểm nhân thọ: sự kiện sống hoặc tử vong.