Tổng quan nghiên cứu

Thanh Hóa là tỉnh có quy mô diện tích tự nhiên rộng lớn với 11.129,48 km2, đứng thứ 5 cả nước, sở hữu vị trí địa kinh tế chiến lược kết nối Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với Bắc Trung Bộ. Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, ngành công nghiệp và xây dựng đã khẳng định vị thế trụ cột khi đóng góp tới 4,31 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 8,26% của năm 2017. Đồng thời, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng 36,68% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng 11,98%.

Mặc dù đạt được nhiều bước chuyển biến tích cực, thực trạng phát triển công nghiệp tại địa phương vẫn bộc lộ những điểm nghẽn mang tính cơ cấu. Quy mô sản xuất công nghiệp nhìn chung còn phân tán, tốc độ chuyển dịch giữa các tiểu vùng chưa đồng đều, và hàm lượng công nghệ cao còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng có tới 23,5% cơ sở sản xuất vẫn vận hành thiết bị ở mức độ lạc hậu, trong khi chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp còn hạn chế với tỷ lệ lao động có trình độ đại học, cao đẳng chỉ đạt 2,02%.

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển ngành công nghiệp trên phạm vi 27 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2010 - 2017, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp chiến lược và định hướng phát triển cho giai đoạn 2019 - 2030. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành, tạo việc làm bền vững cho hơn 121.859 lao động công nghiệp, và thúc đẩy GRDP bình quân đầu người vượt mức 34 triệu đồng/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân công lao động theo lãnh thổ, lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo và mô hình cực tăng trưởng của François Perroux. Các lý thuyết này luận giải tính tất yếu của việc tập trung tư liệu sản xuất và hình thành các cụm ngành công nghiệp quy mô lớn nhằm tối ưu hóa chi phí cố định trên từng đơn vị sản phẩm.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được vận dụng bao gồm: khái niệm công nghiệp theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc về tập hợp hoạt động khai thác và chế biến tài nguyên; cơ cấu công nghiệp theo ngành, thành phần kinh tế và lãnh thổ; cùng các hình thức tổ chức không gian công nghiệp như khu công nghiệp, khu kinh tế và trung tâm công nghiệp.

Cơ sở pháp lý của đề tài bám sát Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam quy định 4 phân ngành công nghiệp cấp 1, và Nghị định 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghiệp sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Niên giám Thống kê tỉnh giai đoạn 2010 - 2017, và các báo cáo ngành chuyên môn. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ 27 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 24 huyện, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp liên tục trong 8 năm (2010 - 2017). Để gia tăng tính xác thực, phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa có chủ đích được áp dụng tại các đơn vị hạt nhân như Khu kinh tế Nghi Sơn, Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn và Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chuỗi thời gian, thống kê mô tả và so sánh tổng hợp là nhằm bóc tách biến động tốc độ tăng trưởng, nhận diện sự dịch chuyển tỷ trọng giữa các thành phần kinh tế, và đặt vị thế công nghiệp Thanh Hóa trong mối tương quan so sánh với tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi và bình quân cả nước. Ngoài ra, phương pháp bản đồ và biểu đồ không gian được tích hợp để trực quan hóa mức độ phân bố lãnh thổ công nghiệp theo dòng thời gian nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, sản xuất công nghiệp tỉnh Thanh Hóa duy trì đà tăng trưởng ổn định và vượt mức bình quân chung của cả nước ở một số thời điểm. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành năm 2017 ước tăng 9,32% so với năm 2016. Giai đoạn 2014 - 2017, chỉ số IIP của tỉnh lần lượt đạt 106,9% (2014), 109,8% (2015), 109,2% (2016) và 109,1% (2017), trong đó năm 2016 cao hơn mức tăng 107,4% của cả nước là 1,8 điểm phần trăm. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt doanh thu vượt mức 20.000 tỷ đồng, đóng góp trên 60% tổng thu ngân sách nhà nước toàn tỉnh.

Thứ hai, cơ cấu công nghiệp theo ngành chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao tỷ trọng chế biến sâu, giảm dần tỷ trọng khai khoáng thô. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khẳng định vai trò chủ lực tuyệt đối, luôn chiếm từ 94,9% đến 97% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, đạt 54.014 tỷ đồng vào năm 2017. Trong đó, ngành dệt may và da giày có bước bứt phá vượt bậc từ 13.845,1 tỷ đồng năm 2013 lên 19.126,9 tỷ đồng năm 2017, tăng tỷ trọng đóng góp từ 1,73% lên 4,39%. Ngành chế biến thực phẩm và đồ uống đạt giá trị sản xuất trên 17.500 tỷ đồng, với năng lực sản xuất mía đường đạt 15.000 tấn mía/ngày tại 3 nhà máy trọng điểm.

Thứ ba, quy mô lực lượng lao động công nghiệp mở rộng nhanh chóng nhưng chất lượng chuyên môn chuyển biến chậm. Tổng số lao động công nghiệp tăng từ 108.510 người năm 2015 lên 121.859 người năm 2017, tập trung chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và chế biến, chế tạo với 93.160 lao động. Tuy nhiên, cơ cấu trình độ cho thấy công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông chiếm tới 94,92%, trong khi trình độ trung cấp chỉ đạt 3,06% và trình độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm 2,02%.

Thứ tư, trình độ thiết bị và công nghệ sản xuất còn nhiều hạn chế. Chỉ có 18,8% doanh nghiệp sở hữu công nghệ tiên tiến, 57,7% ở mức độ trung bình và có tới 23,5% doanh nghiệp sử dụng thiết bị lạc hậu. Tuổi thọ máy móc bình quân dao động từ 18 đến 20 năm, với tỷ lệ hao mòn tài sản cố định ở mức cao từ 35% đến 40%.

Thảo luận kết quả

Sự tăng trưởng vượt bậc của công nghiệp Thanh Hóa bắt nguồn từ sự hình thành các hạt nhân công nghiệp trọng điểm, nổi bật là việc đưa Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn vào vận hành thử nghiệm, tạo xung lực lan tỏa cho toàn bộ vùng kinh tế Nam Thanh - Bắc Nghệ. Tuy nhiên, tình trạng mất cân đối giữa công nghệ thâm dụng lao động giản đơn và công nghệ kỹ thuật cao khiến năng suất lao động chưa đạt kỳ vọng.

So sánh với mô hình công nghiệp lọc dầu Dung Quất tại Quảng Ngãi (nơi giá trị gia tăng công nghiệp đạt 52,79% và chiếm 60,7% cơ cấu kinh tế năm 2017) hoặc chuyển dịch kinh tế bền vững tại Quảng Ninh (IIP tăng 3,77% nhờ chuyển dần từ khai thác than sang chế tạo), Thanh Hóa cần đẩy nhanh tốc độ nâng cấp công nghệ để tránh bẫy gia công giá trị thấp.

Về mặt biểu diễn dữ liệu khoa học, các kết quả tăng trưởng này có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu giá trị sản xuất theo 4 phân ngành cấp 1, kết hợp bản đồ phân vùng mật độ sản xuất công nghiệp theo 27 huyện thị để làm nổi bật sự chênh lệch rõ nét giữa dải ven biển và khu vực miền núi phía Tây.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành và thu hút đầu tư công nghệ cao. Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp phối hợp chặt chẽ với Sở Công Thương ưu tiên thu hút các dự án FDI có hàm lượng kỹ thuật cao. Mục tiêu là nâng tỷ lệ doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến từ 18,8% lên 40% vào năm 2025 và đạt trên 60% vào năm 2030, tập trung vào công nghiệp hỗ trợ cơ khí, hóa dầu và điện tử.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng đề án liên kết đào tạo giữa các trường đại học, cao đẳng nghề với các tập đoàn công nghiệp lớn. Kế hoạch hành động đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động công nghiệp có trình độ đại học, cao đẳng từ mức 2,02% hiện tại lên 12% trong giai đoạn 2020 - 2025, đồng thời phổ cập đào tạo kỹ năng vận hành công nghệ tự động hóa cho 100% công nhân kỹ thuật.

Thứ ba, hoàn thiện mạng lưới hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ logistics đồng bộ. Sở Giao thông Vận tải và Sở Kế hoạch và Đầu tư đẩy nhanh tiến độ nâng cấp hơn 8.000 km đường bộ huyết mạch, kết nối thông suốt Cảng nước sâu Nghi Sơn (năng lực tiếp nhận tàu trên 5 vạn tấn) với Cảng hàng không Thọ Xuân nhằm đưa sản lượng phục vụ vượt mốc 1,5 triệu lượt hành khách/năm vào năm 2025.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát môi trường và chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp sinh thái. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện giám sát tự động 100% nguồn nước thải và khí thải tại các nhà máy xi măng, lọc dầu và chế biến thực phẩm. Áp dụng quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt theo Nghị định 82/2018/NĐ-CP, hỗ trợ vốn đổi mới công nghệ để kéo giảm tỷ lệ hao mòn thiết bị xuống dưới 20% trước năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại địa phương, bao gồm Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hóa. Luận văn cung cấp khung dữ liệu chuỗi thời gian 2010 - 2017 và hệ thống chỉ tiêu đánh giá để phục vụ công tác xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045.

Nhóm 2: Các nhà đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp trong nước và các tập đoàn FDI đang tìm kiếm cơ hội đầu tư. Nhóm này có thể khai thác các thông tin thực chứng về hạ tầng giao thông 92 km đường sắt, hệ thống cảng biển, mạng lưới điện cao thế 508 km và quy mô 121.859 lao động để lập phương án tiền khả thi cho các dự án nhà máy.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Quy hoạch không gian. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp kết hợp lý thuyết cực tăng trưởng, phương pháp phân tích thực địa và bản đồ GIS trên địa bàn một tỉnh rộng lớn.

Nhóm 4: Các tổ chức tư vấn kinh tế, hiệp hội doanh nghiệp ngành dệt may, da giày, chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựng. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu 54.014 tỷ đồng giá trị ngành chế biến để hỗ trợ xây dựng chiến lược liên kết chuỗi cung ứng sản phẩm.

Câu hỏi thường gặp

Phân ngành công nghiệp nào đóng vai trò nòng cốt đối với cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hóa? Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò trụ cột vững chắc, luôn chiếm tỷ trọng từ 94,9% đến 97% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, đạt 54.014 tỷ đồng năm 2017. Trong đó, sản xuất may mặc, da giày (đạt 19.126,9 tỷ đồng) và chế biến thực phẩm, đồ uống (đạt trên 17.500 tỷ đồng) là hai nhóm ngành đóng góp giá trị cao nhất.

Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp tại Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2017 ra sao? Lực lượng lao động công nghiệp đạt quy mô 121.859 người vào năm 2017 nhưng chất lượng chuyên môn còn nhiều bất cập. Lao động có trình độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm 2,02%, trình độ trung cấp chiếm 3,06%, trong khi 94,92% là công nhân kỹ thuật và lao động thủ công được đào tạo tại chỗ, thiếu tác phong công nghiệp hiện đại.

Khu kinh tế Nghi Sơn tạo ra tác động đột phá nào đối với công nghiệp địa phương? Khu kinh tế Nghi Sơn là cực tăng trưởng động lực nhờ sở hữu cảng biển nước sâu tiếp nhận tàu trên 5 vạn tấn và Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn đi vào vận hành thử nghiệm. Dự án này tạo bước tăng trưởng đột biến về thu ngân sách, giúp khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,98% trong năm 2017.

Trình độ công nghệ và trang thiết bị của các doanh nghiệp công nghiệp hiện nay như thế nào? Mức độ hiện đại hóa công nghệ còn tương đối thấp khi chỉ có 18,8% doanh nghiệp đạt trình độ tiên tiến, 57,7% ở mức trung bình và 23,5% thuộc diện lạc hậu. Tuổi thọ thiết bị trung bình từ 18 đến 20 năm, với tỷ lệ hao mòn tài sản cố định từ 35% đến 40%, gây cản trở lớn đến năng suất.

Những bài học kinh nghiệm phát triển công nghiệp quan trọng nào được đúc kết từ các tỉnh so sánh? Luận văn rút ra bài học từ Quảng Ninh về nâng chỉ số IIP đạt 3,77% nhờ chuyển đổi cơ cấu từ khai khoáng sang chế biến, và bài học từ Quảng Ngãi nâng tỷ trọng công nghiệp đạt 60,7% nhờ lọc dầu Dung Quất. Các kinh nghiệm này khẳng định tầm quan trọng của quy hoạch dài hạn và thu hút dự án hạt nhân.

Kết luận

  • Đánh giá hệ thống và toàn diện bức tranh phát triển công nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2017 với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 8,26% và doanh thu sản xuất công nghiệp vượt mốc 20.000 tỷ đồng.
  • Xác định rõ vai trò chủ đạo của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng từ 94,9% đến 97%, đồng thời chỉ rõ rào cản công nghệ khi chỉ có 18,8% cơ sở đạt trình độ tiên tiến.
  • Khẳng định giá trị chiến lược của các hạ tầng hạt nhân như Cảng nước sâu Nghi Sơn đón tàu trên 5 vạn tấn, 92 km đường sắt và hơn 8.000 km đường bộ trong việc thu hút dòng vốn FDI.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp đột phá cho giai đoạn 2019 - 2030 nhằm nâng tỷ lệ công nghệ cao lên 60%, chuẩn hóa trình độ chuyên môn cho hơn 121.859 lao động và xây dựng các khu công nghiệp sinh thái bền vững.
  • Đề nghị các cơ quan ban ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư nhanh chóng phối hợp khai thác các kết quả nghiên cứu để hiện thực hóa mục tiêu đưa Thanh Hóa trở thành trung tâm công nghiệp lớn của cả nước.