phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cầu gồm 4 chương. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LI N QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG V NGO I NƢỚC VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Phát triển công nghiệp, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường của hầu hết các quốc gia nhằm mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội. Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước cũng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Chính vì vậy, chủ đề phát triển công nghiệp đã được nghiên cứu từ khá lâu và cho đến nay có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển công nghiệp dưới các góc độ, cách tiếp cận, phạm vi, phương pháp nghiên cứu khác nhau.Trong đó, có hai nhóm nghiên cứu chính liên quan đến tiếp cận của đề tài luận án. Nhóm thứ nhất bao gồm các nghiên cứu về phát triển công nghiệp, công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở cấp quốc gia. Nhóm thứ hai bao gồm các nghiên cứu về phát triển công nghiệp ở cấp địa tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ngoài ra có các nghiên cứu về phát triển công nghiệp trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể.
Các nghiên cứu về phát triển công nghiệp ở cấp quốc gia Phần lớn các nghiên cứu phát triển công nghiệp tập trung vào phát triển công nghiệp ở cấp quốc gia. Do đó, có nhiềucông trình của các nhà khoa học trong và ngoài nước, tổng kết của các tổ chức quốc tếvề phát triển công nghiệp dưới các góc độ khác nhau, từ nghiên cứu tổng thể về phát triển công nghiệp, công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đến nghiên cứu từng nội dung cụ thể về phát triển công nghiệp như xây dựng, lựa chọn chiến lược phát triển công nghiệp, chính sách công nghiệp, phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp, thu hút vốn đầu tư vào công nghiệp,…. Chủ trương công nghiệp hóa đã được khởi xướng từ khá sớm, ngay tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960. Tại đại hội Đại hội 10 đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng năm 1996, Đảng ta đã khẳng định đất nước ta chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Ngay trong giai đoạn đầu sau Đổi mới (1986), đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm phác thảo nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tìm kiếm con đường, bước đi, sớm đưa Việt Nam thực hiện các nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cho đến nay rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước tập trung vào chủ đề phát triển công nghiệp, công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Một số công trình xuất bản đã lâu nhưng vẫn còn giá trị tham khảo như: Hoàng Trung Hải, Công nghiệp Việt Nam phát huy nội lực, tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [35]; Võ Đại Lược, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam đến năm 2000 [52]; Ngô Đình Giao, Suy nghĩ về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta: một số vấn đề lý luận và thực tiễn [33]; Bùi Tất Thắng, Các nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa ở Việt Nam [91]; Hồ Văn Vĩnh, Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong tình hình mới [110]; Phạm Xuân Nam, Quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam - Triển vọng trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước [57]; Nguyễn Sinh, Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới: thành tựu và vấn đề đặt ra [74]. Nội dung bài viết đã phân tích khá chi tiết những thành tựu đạt được của công nghiệp trong gần 20 năm đổi mới và chỉ rõ 6 vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thời gian tới cho ngành công nghiệp Việt Nam.
Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng để phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn tiếp theo; Quốc Trung và Linh Chi, Phát triển công nghiệp Việt Nam: thực trạng và thách thức [92]; Đỗ Đăng Hiếu, Sự phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ [48]. Các công trình nêu trên hướng tới xác định các nội dung, lộ trình, bước đi của công nghiệp hóa, những tiêu chí đối với một quốc gia công nghiệp, cách thức sử dụng nguồn lực cũng như thách thức phải đối mặt khi tiến hành công nghiệp hóa ở cấp quốc gia, những nhân tố ảnh hưởng trong quá trình 11 công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam…. Gần đây hơn, các nghiên cứu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa được gắn với những thay đổi trong bối cảnh quốc tế, với toàn cầu hóa và hội nhập. Chẳng hạn, Vũ Đình Cự, Những thành tựu, hạn chế và thách thức của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa [5].
Đề tài đã làm rõ những đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện toàn cầu hóa; chỉ ra những thành tựu và hạn chế của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam sau 20 năm đổi mới, trong đó có phân tích những thành tựu và hạn chế của ngành công nghiệp, đề xuất một số giải pháp khắc phục. Tương tự, tác giả Trương Đình Tuyển [84], đã phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát trỉển công nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam. Gắn với công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhiều nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng, hoạch định chính sách, qui hoạch phát triển công nghiệptheo từng thời kỳ, từng giai đoạn. Chẳng hạn, Dwight Perkins và Vũ Thành Tự Anh [16].
Đề tài đã phân tích sự hình thành và thay đổi chính sách công nghiệp của Việt Nam qua thời gian, đánh giá tác động của từng chính sách và đưa ra các kiến nghị, giải pháp cho Việt Nam. Robert Wade đánh giá lại chính sách công nghiệp tại các quốc gia thu nhập thấp sau khủng hoảng. Tác giả đã phân tích sự nổi lên của Nhà nước trong can thiệp kinh tế từ sau Đại suy thoái kinh tế 1929-1933, vai trò của chính sách công nghiệp trong phát triển kinh tế tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan và chỉ ra những xu hướng mới trong chính sách công nghiệp [71]. Đặc biệt, trong một nghiên cứu hợp tác công phu giữa Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) và Trường đại học kinh tế quốc dân, hai giáo sư Kenichi Ohno và Nguyễn Văn Thường đã chủ biên cuốn sách Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam [49].
Sự kết hợp nghiên cứu giữa một chuyên gia người Việt Nam và 1 chuyên gia Nhật Bản đã góp phần làm rõ hơn chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất, gợi ý cho giai đoạn phát 12 triển tiếp theo.Công trình này cũng so sánh chiến lược phát triển công nghiệp của Việt Nam với các nước trong khu vực; nêu lên những kinh nghiệm của các nước ASEAN trong phát triển các ngành công nghiệp điện, điện tử, sản xuất ô tô, xe máy và một số ngành công nghiệp hỗ trợ. Trên cơ sở đó, công trình rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho ngành công nghiệp Việt Nam. Một nghiên cứu khác do Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện năm 1998 đánh giá Lựa chọn và thực hiện chính sách phát triển kinh tế ở Việt Nam [106]. Mặc dù chủ đề khá rộng – chính sách phát triển kinh tế Việt Nam, nhưng công trình này đã dành một dung lượng khá lớn để phân tích, đánh giá và đề xuất chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam, trong đó chú trọng một số ngành chính như công nghiệp điện, điện tử, chế tạo, dệt may; công nghiệp sửa chữa tàu; những ngành công nghiệp nhiều vốn và những ngành công nghiệp non trẻ như công nghiệp ô tô và phụ tùng, thép, lọc hóa dầu, phân bón, xi măng.
của Việt Nam. Tác giả Nguyễn Thị Hường [42] lại tập trung phân tích qui hoạch phát triển công nghiệp Việt Nam dưới góc độ phát triển bền vững. Nghiên cứu chỉ ra những hạn chế trong qui hoạch phát triển công nghiệp và đề xuất giải pháp. Bên cạnh các nghiên cứu chung về phát triển công nghiệp, công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhiều nghiên cứu tập trung vào các ngành công nghiệp cụ thể.
Chẳng hạn, Đinh Trường Hinh và cộng sự trong một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới đã phân tích sự phát triển của các ngành công nghiệp nhẹ ở Việt Nam như dệt may, da giầy, chỉ ra những kết quả và hạn chế và kiến nghị chính sách [35]. Tác giả Võ Thanh Thu đã phân tích hạn chế và đề xuất những giải pháp cho sự phát triển bền vững các khu công nghiệp Việt Nam trên tạp chí Phát triển kinh tế [90]. Đặc biệt, trong những năm gần đây, khá nhiều nghiên cứu tập trung vào chủ đề phát triển công nghiệp hỗ trợ, do đây là con đường để đưa công nghiệp Việt Nam thoát khỏi tình trạng lắp ráp đơn thuần. Các tác giả Nguyễn Trọng Hoài và Huỳnh Thanh Điền đã có nhiều nghiên cứu về phát 13 triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam, điển hình như: - Nguyễn Trọng Hoài, Huỳnh Thanh Điền, Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam giai đoạn 2015-2020 [44].
Các tác giả đã phan tích những hạn chế của chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, trên cơ sở đút kết kinh nghiệm quốc tế và phân tích dữ liệu thứ cấp để đề xuất định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam. Nghiên cứu đề xuất 5 ngành công nghiệp hỗ trợ ưu tiên, bo gồm: linh kiện, phụ tùng cơ khí; nhựa – cao su; thiết bị điện – điện tử; công nghiệp hỗ trợ dệt may, da giày. - Huỳnh Thanh Điền, Tháo gỡ rào cản phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam [29]. - Nguyễn Trọng Hoài, Huỳnh Thanh Điền, Chính sách qui hoạch và thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam [43].
Vụ Kinh tế công nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thực trạng, định huớng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam [107]. Tác giả Lê Thế Giới [34], đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, đánh giá các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ và đề xuất các kiến nghị, đặc biệt tập trung giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ tài vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.