mở đầu của việc phát triển KCN - KCX của nước ta - Ngày 24/4/1997, Chính phủ ban hành Nghị định 36/CP thống nhất các quy chế KCN-KCX nhằm kiện toàn và đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng và phát triển các KCN - KCX; Tạo một hành lang pháp lý đặc biệt cho loại hình kinh tế còn khá mới mẻ lại có điểm xuất phát thấp. - Ngày 14/3/2008 Chính phủ ban hành Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định về KCN, KCX và KKT - Ngày 2/3/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg Về việc chấn chỉnh công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế, khu công nghiệp(KCN), cụm công nghiệp(CCN) - Ngày 07/02/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 318/QĐ- TTg Ban hành Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo về phát triển KKT, KCN 1. Đặc điểm các loại hình KCN. Nước ta có 04 loại hình KCN là: Khu công nghiệp; Khu chế xuất; Khu công nghệ cao; Khu kinh tế mở( Trong luận văn này xin được gọi chung là KCN ) và được phân làm 6 vùng: Trung du miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Hồng; Duyên hải Trung bộ; Tây Nguyên; Đông Nam bộ; Đồng bằng sông Cửu Long.
Căn cứ vào mục đích sản xuất, người ta chia ra làm 02 loại: - KCN - Bao gồm các cơ sở sản xuất hàng CN để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. - KCX - Là một dạng của KCN chuyên làm hàng xuất khẩu. Đặc điểm chung của các loại hình KCN này là tập trung vốn và các nguồn lực khác nhằm tạo nên cơ sở hạ tầng thật tốt để thu hút các DN vào sản xuất trong một phạm vi địa lý xác định trên một phạm vi lãnh thổ nhất định; Được Chính phủ áp dụng một cơ chế quản lý ưu đãi để động viên - khuyến khích các nhà đầu tư sản xuất trong KCN. Mục đích để tập trung các điều kiện thuận lợi về mọi mặt(cơ sở hạ tầng, cơ chế quản lý,…) nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả hoạt động CN và thương mại, đảm bảo an toàn để nhà đầu tư an tâm sản xuất.
Có thể khái quát thành các loại hình như sau: - Các KCN được thành lập trên một phạm vi khuôn viên có sẵn một số DN đang hoạt động. Nghĩa là, KCN hình thành từ các cụm CN có sẵn, do đó đòi hỏi các công ty phải nhanh chóng nâng cấp cơ sở hạ tầng và phải xây 15 dựng các công trình xử lý chất thải, trồng cây xanh để giảm thiểu ô nhiễm môi trường sinh thái. - Các KCN hình thành do yêu cầu di dời các nhà máy, các xí nghiệp đang hoạt động trong nội thành - nội thị, vùng đông dân cư sinh sống gây ảnh hưởng đến hoạt động của đời sống xã hội, làm mất vẻ mỹ quan, ô nhiễm môi trường, Hoặc do yêu cầu di dời, giải tỏa để xây dựng các công trình xã hội khác. Mặt khác, một số công ty, xí nghiệp do yêu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ phải chọn giải pháp di dời.
- KCN hiện đại có quy mô lớn được xây dựng mới, loại hình này có đặc điểm được tập trung vốn ban đầu tương đối lớn nên tốc độ xây dựng nhanh, chất lượng các công trình hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế; Có các hệ thống hạ tầng đồng bộ, hệ thống xử lý các chất thải tiên tiến; Có một số khu có nhà máy điện riêng bảo đảm tốt cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp. Mục tiêu phát triển các KCN tại Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Đảng ta xác định chiến lược của 10 năm đầu thế kỷ XXI là đẩy mạnh CNH - HĐH, tạo nền tảng hình thành một nước CN hiện đại. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng XI (năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã định hướng phát triển KCN bền vững và theo chiều sâu: “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; Phát huy hiệu quả các khu - cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao”.
Giai đoạn đến năm 2015 - Đầu tư đồng bộ để hoàn thiện các KCN hiện có, thành lập mới một cách có chọn lọc các KCN với tổng diện tích tăng thêm khoảng 20.000 ha; Nâng tổng diện tích các KCN đến năm 2015 lên khoảng 65.000 ha; Phấn đấu đạt tỷ lệ lấp đầy của các KCN bình quân trên toàn quốc khoảng 60%. - Có các biện pháp - chính sách chuyển đổi cơ cấu các ngành CN trong các KCN đã và đang xây dựng theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với tính chất và đặc thù của các địa bàn lãnh thổ. - Xây dựng các công trình xử lý rác thải CN tập trung quy mô lớn ở những khu vực tập trung các KCN tại các vùng kinh tế trọng điểm. - Tiếp tục hoàn thiện cơ chế - chính sách khuyến khích đầu tư vào các KCN; Phấn đấu thu hút thêm khoảng 6.800 dự án với tổng vốn đầu tư 16 đăng ký khoảng trên 36 - 39 tỷ USD - Trong đó vốn đầu tư thực hiện khoảng 50%.
Giai đoạn đến năm 2020 - Quản lý tốt và có quy hoạch sử dụng hợp lý diện tích đất dự trữ cho xây dựng KCN. - Hoàn thiện về cơ bản mạng lưới KCN trên toàn lãnh thổ với tổng diện tích các KCN đạt khoảng 80. - Quản lý, chuyển đổi cơ cấu đầu tư phát triển các KCN đã được thành lập theo hướng đồng bộ hóa. Vai trò của KCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Sau khi Nhà nước ta ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1989), nhiều KCN đã được xây dựng và đi vào họat động. KCN được hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế đất nước, xuất phát từ chủ trương: Xây dựng một mô hình mang tính đột phá trong thu hút đầu tư, tăng trưởng CN, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH. Qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, thành tựu của các KCN đã được minh chứng bằng những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước, thể hiện trên các mặt kinh tế, môi trường và xã hội, như: - Phân công lại lao động xã hội trên phạm vi cả nước ở một trình độ cao hơn; Cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân theo hướng tập trung khai thác, tận dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước, những tiềm năng - lợi thế hiện có; Nâng cao sức cạnh tranh; Đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH và phát triển nền kinh tế theo hướng bền vững. - Sản xuất nhiều hàng hoá tiêu dùng nội địa và sản phẩm xuất khẩu có tính cạnh tranh cao, góp phần to lớn vào việc tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa xuất khẩu và tiêu dùng có giá trị kinh tế; Tăng thêm nhiều việc làm để thu hút một số lượng không nhỏ những người lao động - Nhất là ở nông thôn; góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tăng thu nhập quốc dân; Ổn định kinh tế - xã hội; Nâng cao đời sống của nhân dân - Tạo môi trường chuyển giao công nghệ một cách nhanh chóng, thuận lợi cho quá trình tiếp thu những thành tựu tiến bộ khoa học và công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH( phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế); Tạo ra thế và lực mới cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Đây cũng là môi trường tốt để đào tạo, chuyển giao khoa học cho đội ngũ cán bộ quản lý của Việt Nam. 17 - Tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, đồng bộ cả về kinh tế - kỹ thuật và xã hội( có giá trị lâu dài ); Góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước. - Tạo thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tiếp cận được với các nguồn lực; Cho phép thực hiện sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường trong quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH, vì sự phát triển bền vững. - Thu hút một khối lượng lớn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước cho phát triển CN và phát triển kinh tế - xã hội.
Hàng năm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) vào KCN chiếm từ 35-40% tổng vốn đăng ký tăng thêm của cả nước; Riêng lĩnh vực CN chiếm gần 80%. - Thúc đẩy tăng trưởng ngành sản xuất CN, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế; Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước theo hướng CNH - HĐH. - Góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động. Hình thành và phát triển mạnh mẽ thị trường sức lao động, nhất là lao động có trình độ cao.
- Góp phần tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái, tăng trưởng kinh tế; Giải quyết các vấn đề xã hội. Sự cần thiết của hoạt động quản lý đối với KCN Nền kinh tế nước ta bao gồm nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy QLNN đối với KCN là một chức năng hết sức quan trọng để vận dụng các quy luật kinh tế tác động lên các đối tượng quản lý nhằm điều chỉnh - hỗ trợ và định hướng cho các thành phần kinh tế phát triển; Khắc phục những mặt trái trong phát triển hệ thống KCN; Tạo điều kiện thuận lợi cho các DN thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo hoạt động đúng pháp luật. Do hệ thống DN vẫn còn nhiều hạn chế về nguồn vốn, về trình độ kỹ thuật – quản lý, về khả năng cạnh tranh nên Nhà nước cần có cơ chế và các chính sách kích thích - hỗ trợ: về mặt bằng sản xuất, vốn, thuế, đào tạo nhân lực… Sự hỗ trợ - khuyến khích từ phía Nhà nước là hết sức cần thiết, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các DN.
Quản lý KCN thực chất là hoạt động QLNN, là sự tác động của Nhà nước bằng cơ chế - chính sách và các công cụ quản lý khác. Nhà đầu tư - DN trong KCN là đối tượng 18 của hoạt động quản lý.