CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH QUẢNG TRỊ 1.1 Khái niệm và phân loại công nghiệp 1.2 Khái niệm Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật.Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa". Theo nghĩa này, những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v. Công nghiệp và ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội.
Công nghiệp bao gồm ba loại hoạt động chủ yếu: + Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thuỷ. Sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội. + Khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và sinh hoạt. +Từ khái niệm trên ta thấy: công nghiệp là một ngành kinh tế to lớn thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất bao gồm một hệ thống các ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp, mỗi ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp đó lại bao gồm nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều hình thức khác nhau.2 Phân loại Bởi hoạt động công nghiệp là vô cùng đa dạng, có rất nhiều cách phân loại công nghiệp, như: Theo mức độ thâm dụng vốn và tập trung lao động: Công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ Theo sản phẩm và ngành nghề: công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô tô, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lượng, v.
Theo phân cấp quản lý: công nghiệp địa phương, công nghiệp trung ương. Ở một số quốc gia như Việt Nam và Nhật Bản, công nghiệp bao gồm: - Khai thác khoáng sản, than, đá và dầu khí 8 Luan van - Chế biến, chế tạo (kể cả chế biến thực phẩm, gỗ) - Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước. - May mặc, đồ dụng gia đình - Chế biến, sản xuất các chất hóa chất cần thiết Chuẩn phân loại các ngành công nghiệp toàn cầu (GICS) Chuẩ n phân loa ̣i công nghiêp̣ toàn cầ u viế t tắ t là GICS (Global Industry Classification Standard) được phát triển bởi tổ chức Morgan Stanley Capital International (MSCI) và Standard & Poor’s vào năm 1999. GICS được đưa ra nhằm đưa ra một tiêu chuẩn chung cho việc phân loại các doanh nghiê ̣p vào các ngành và nhóm ngành có liên quan.
10 nhóm ngành chính của GICS - Năng lượng (Energy): bao gồm các công ty thăm dò, chế biến, khai thác, vận tải,… nhiên liệu, chất đốt; sản phẩm là dầu khí, than đá,… và các phụ phẩm, chế phẩm của chúng. - Nguyên vật liệu (Meterials): đây là một nhóm ngành rộng bao gồm các công ty hoá chất, lâm sản, kính, giấy; các công ty khai thác mỏ và luyện kim; các công ty sản xuất bao bì đóng gói (bao bì giấy, kim loại, thuỷ tinh). - Công nghiệp (Industrials): gồm các công ty chế tạo các loại máy công nghiệp, thiết bị điện;, xây dựng, quố c phòng, giao thông vận tải cùng các dịch vụ liên quan. - Hàng tiêu dùng không thiết yếu (Consumer Discretionary): gồm những nhóm hàng như: xe hơi, may mă ̣c, đồ điện tử gia dụng, các thiết bị giải trí, giáo dục.
Gồ m các nhóm nhà hàng, khách sạn, trung tâm giải trí, truyền thông. - Hàng tiêu dùng thiết yếu (Consumer Staples): gồm các công ty sản xuất và phân phối lương thực, thực phẩm, thuốc lá, nước giải khát, các vật dụng cá nhân. Cũng bao gồm các siêu thị thực phẩ m, hiê ̣u thuố c. - Chăm sóc sức khoẻ (Health Care): bao gồm các công ty cung cấp các thiết bị, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, phát triển sản xuất dược phẩm và công nghệ sinh học.
- Tài chính (Financials): gồm các ngân hàng, các quỹ đầu tư tài chính, công ty bảo hiểm và bất động sản, các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính khác. - Công nghệ thông tin (Information Technology): bao gồm các công ty nghiên cứu và sản xuất phần mềm, thiết bị công nghệ phần cứng cùng các dịch vụ liên quan, sản xuất chất bán dẫn và thiết bị bán dẫn. 9 Luan van - Dịch vụ viễn thông (Telecommunications Services): gồm các công ty cung cấp dịch vụ viễn thông cố định, truy cập dữ liệu băng thông rộng, không dây,… - Dịch vụ điện – nước (Utilities): gồm các công ty sản xuất và phân phối điện năng, quản lý hệ thống nước, khí gas sinh hoạt.2 Đặc điểm và vai trò của công nghiệp 1.1 Đặc điểm của sản xuất công nghiệp - Tính chất hai giai đoạn của quá trình sản xuất Quá trình sản xuất công nghiệp thường được chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn tác động vào đối tượng lao động để tạo ra nguyên liệu và giai đoạn chế biến các nguyên liệu thành tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Tất nhiên, trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều công đoạn sản xuất phức tạp và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Tính chất hai giai đoạn của quá trình sản xuất công nghiệp là do đối tượng lao động của nó đa phần không phải sinh vật sống, mà là các vật thể của tự nhiên, thí dụ như khoáng sản nằm sâu trong lòng đất hay dưới đáy biển. Con người phải khai thác chúng để tạo ra nguyên liệu, rồi chế biến nguyên liệu đó để tạo nên sản phẩm. - Sản xuất công nghiệp có khả năng thực hiện chuyên môn hoá sản xuất sâu và hiệp tác hoá sản xuất rộng Do hai giai đoạn của sản xuất công nghiệp không phải theo trình tự bắt buộc như nông nghiệp, mà có thể tiến hành đồng thời và thậm chí cách xa nhau về mặt không gian. Bởi vì sản xuất công nghiệp chủ yếu là quá trình tác động cơ, lý, hoá trực tiếp vào giới tự nhiên để lấy ra và biến đổi các vật thể tự nhiên thành các sản phẩm cuối cùng phục vụ cho nhân loại.
Do đó, trong sản xuất công nghiệp, các nhà sản xuất có thể lựa chọn mức độ chuyên môn hoá phù hợp. - Sản xuất công nghiệp có xu hướng phân bố ngày càng tập trung cao độ theo lãnh thổ Phân bố tập trung theo lãnh thổ là quy luật phát triển của sản xuất công nghiệp thể hiện ở quy mô xí nghiệp và mật độ sản xuất các xí nghiệp công nghiệp trên một đơn vị lãnh thổ. Tính tập trung theo lãnh thổ của sản xuất công nghiệp có nhiều ưu điểm, song cũng có nhiều nhược điểm. Công nghiệp phân bố tập trung theo lãnh thổ hình thành những điểm công nghiệp, khu công nghiệp, vùng công nghiệp sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện chuyên môn hoá sản xuất và hiệp tác hoá sản xuất, khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản xuất, đưa lại hiệu quả kinh tế xã hội cao.
Tuy nhiên nếu quy mô tập trung công nghiệp theo 10 Luan van lãnh thổ quá mức,vượt quá sức chứa của lãnh thổ, sẽ gây ra rất nhiều khó khăn đó là: làm hình thành những khu công nghiệp lớn, những trung tâm dân cư đông đúc, những thành phố khổng lồ, tạo sức ép lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng, gây khó khăn phức tạp cho tổ chức, quản lý xã hội và môi trường. Vì vậy cần nghiên cứu toàn diện những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trong từng địa phương; từng vùng cũng như trên lãnh thổ cả nước để lựa chọn quy mô phân bố công nghiệp cho phù hợp. - Đặc điểm công nghệ sản xuất: công nghệ sản xuất trong công nghiệp do con người tạo ra. Quá trình tạo ra sản phẩm công nghiệp được thực hiện thông qua hệ thống máy móc, thiết bị với đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao.
Khi công nghệ ngày càng được cải tiến, hiện đại thì đổi hỏi trình độ lao động phải tăng theo và ngược lại. - Đặc điểm về sự biến đổi các đối tượng lao động: sau mỗi chu kỳ sản xuất từ một nguồn nguyên liệu với những công nghệ khác nhau có thể tạo ra nhiều sản phẩm với nhiều công dụng khác nhau; cùng một sản phẩm có thể tạo ra nhiều mẫu mã, kiểu dáng khác nhau. Đây là tính ưu việt của sản xuất công nghiệp 1.2 Vai trò của công nghiệp đối với phát triển kinh tế - Công nghiệp tăng trưởng nhanh và làm gia tăng thu nhập quốc gia Năng suất lao động của khu vực công nghiệp cao hơn hẳn các ngành kinh tế khác, mà năng suất lao động là yếu tố quyết định nâng cao thu nhập, thúc đẩy nhanh tăng trưởng công nghiệp và đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập của quốc gia. Công nghiệp có vai trò quan trọng này là do thường xuyên được đổi mới và ứng dụng công nghệ tiến tiến; hơn nữa, giá cả sản phẩm công nghiệp thường ổn định và cao hơn các sản phẩm khác ở thị trường trong nước và ngoài nước.
- Công nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế Công nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm làm chức năng tư liệu sản xuất, cho nên nó là ngành có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Trình độ phát triển công nghiệp cao thì tư liệu sản xuất càng hiện đại, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động xã hội. Ngày nay, sự phát triển của công nghiệp đang đưa hoạt động kinh tế thế giới đến trình độ sản xuất rất cao, đó là tạo ra các tư liệu sản xuất có khả năng thay thế phần lớn sức lao động của con người. Đó chính là sự ra đời và phát triển mạnh mẽ các tư liệu sản xuất có khả năng tự động hoá trong một số khâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất.
Máy móc tự động hoá thể hiện sự phát triển cao của công nghiệp 11 Luan van trong việc tạo ra tư liệu sản xuất phục vụ cho các ngành sản xuất và cho bản thân ngành công nghiệp.