CHƯƠNG I. Tổng quan tình hình phát triển khu công nghiệp tại Việt Nam 1. Khái niệm và các loại hình khu công nghiệp Ở Việt Nam, khái niệm về KCN được quy định theo Điều 2 – Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về ”Quy chế hoạt động của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao” như sau: KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.[20] Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình đổi mới, ở nước ta đã và đang hình thành một số loại hình KCN, cụ thể là: KCN, hiểu theo nghĩa KCN tập trung: là khu vực tập trung các doanh nghiệp (DN) công nghiệp chuyên sản xuất (SX) hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp (SXCN), có ranh giới địa lý xác định, không có dân xư sinh sống, do Chính phủ quyết định thành lập, trong đó có thể có DN chế xuất. Khu chế xuất (KCX): khu vực công nghiệp chuyên SX các sản phẩm phần lớn để xuất khẩu, có ranh giới rõ rệt, được hưởng quy chế pháp lý và những ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, SX hàng xuất khẩu, tiến hành dịch vụ và hoạt động kinh tế hỗ trợ cho việc SX hàng xuất khẩu và cho xuất khẩu.
Khu công nghệ cao (KCNC): khu tập trung các DN công nghệ, kỹ thuật cao và các cơ sở phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu – triển khai khoa học, công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới xác định, do Chính phủ quyết định thành lập, trong đó có thể có DN chế xuất. KCN vừa và nhỏ: là các KCN có quy mô dưới 50ha đặt tại các thị trấn, thị tứ và các vùng nông thôn, tập trung các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế như hợp tác xã, hộ gia đình. hoạt động trong lĩnh vực SX và cung cấp các dịch vụ phục vụ cho nông – lâm – ngư nghiệp. Hai loại hình phổ biến hiện nay ở nước ta là KCN và KCX.
Đặc điểm các khu công nghiệp ở Việt Nam a. Quy mô Các KCN của Việt Nam phần lớn có quy mô diện tích nhỏ hơn 500ha, trong đó các KCN có diện tích dưới 200ha chiếm hơn 50%. Tính đến hết năm 2010 cả nước có 50 KCN có quy mô dưới 10ha (chiếm 19,2%), trong đó: 17KCN của miền Bắc, 10 KCN miền Trung và 23 KCN của miền Nam. Các KCN có diện tích từ 100- 200 ha có 83 KCN (chiếm 31,9%).
Các KCN có diện tích từ 200-500 có 102 KCN (chiếm 39,2%). Các KCN có diện tích từ 500-1. Các KCN có diện tích lớn hơn 1. Sự phân bố Tính đến hết tháng 9/2012, cả nước đã có 283 KCN được hình thành, các KCN phân bố trên 58/63 tỉnh, thành phố tập trung chủ yếu tại các khu vực như bảng 1.
Sự phân bố KCN theo khu vực TT Khu vực Số lượng KCN Tỷ lệ (%) 1 Đông Nam Bộ 94 33 2 Đồng bằng sông Hồng 72 25 3 Đồng bằng sông Cửu Long 44 16 4 Miền Trung 43 15 5 Trung du miền núi phía Bắc 22 8 6 Tây Nguyên 8 3 Tổng 283 100 Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2012, Báo cáo trình Chính phủ về hiện trạng công tác quản lý và BVMT tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Có thể thấy, các KCN phân bố không đều theo lãnh thổ; tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, tỉnh liền kể, hoặc nơi có cơ sở hạ tầng tốt, như vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng và vùng duyên hải Miền Trung, trong khi đó vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chỉ có vài KCN. Các KCN tập trung chủ yếu ở 20 tỉnh, thành phố thuộc 3 vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ). Vùng KTTĐ phía Nam hiện có 90 KCN với diện tích 30.706 ha, 7 gồm các tỉnh, thành phố như: TP.
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu, đây là những địa phương phát triển công nghiệp mạnh nhất trong cả nước. Vùng KTTĐ phía Bắc có 52 KCN với diện tích 12.393 ha, các KCN tập trung chủ yếu ở Hà Nội và các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Vĩnh Phúc. Vùng KTTĐ miền Trung có 23 KCN và được phân bố tương đối đồng đều, các tỉnh có nhiều KCN nhất là Đà Nẵng, Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Nam. Tình hình phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam a.
Số lượng KCN trên cả nước Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính từ năm 1991 đến năm 2012, trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, cả nước có 283 KCN được hình thành với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 80.000 ha, trong đó có 179 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên trên 47.300 ha; các KCN còn lại đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Sự gia tăng số lượng KCN ở nước ta từ năm 1991 đến năm 2012 được trình bày như trong bảng 1. Số lượng KCN trên cả nước từ năm 1999 đến năm 2012 TT Năm Số lượng KCN Diện tích (ha) 1 1991 01 01 2 1995 12 2.000 8 Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2012, Báo cáo trình Chính phủ về hiện trạng công tác quản lý và BVMT tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp. cho thấy, từ năm 2000 đến nay, số lượng KCN trên cả nước gia tăng mạnh mẽ.
Sự phát triển KCN đã thúc đẩy SXCN, xuất nhập khẩu; thu hút vốn đầu tư, nộp ngân sách Nhà nước; tạo công ăn việc làm cho người lao động; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng trình độ công nghệ SX, tạo sản phẩm có sức cạnh tranh,. đây là một động lực mạnh mẽ để thực hiện mục tiêu biến nước ta thành một nước công nghiệp. Tỷ lệ lấp đầy trong KCN Tính đến hết tháng 6 năm 2012, các KCN trên cả nước đã cho thuê hơn 21.000 ha đất công nghiệp, tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 47%. Riêng các KCN đã đi vào hoạt động đạt tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê gần 65%.
Tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp khá đồng đều giữa các vùng trên cả nước. Tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp tính chung cho các KCN đã vận hành và đang xây dựng cơ bản của các vùng từ 50 – 60%; nếu tính riêng các KCN đã vận hành thì thường ở mức 65 – 75%. Một số vùng phát triển KCN từ lâu có tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp đã vận hành cao như Đông Nam Bộ (cả Long An) là 73%, Đồng bằng sông Hồng là 73%, Đồng bằng sông Cửu Long là 89%. Ô nhiễm môi trường và công tác quản lý bảo vệ môi trường KCN 1.
Ô nhiễm môi trường KCN Việc hình thành các KCN nhằm tạo điều kiện để các chủ DN đầu tư mở rộng qui mô SX, song thực tế cho thấy, nhiều DN đã nhập dây chuyền công nghệ lạc hậu hàng chục năm. Điều này không chỉ làm giảm sức cạnh tranh, mà còn khiến hoạt động SX không ổn định, gây ô nhiễm môi trường (ÔNMT). Cụ thể như: Ô nhiễm do nước thải Theo ước tính, mỗi KCN thải khoảng từ 3.000m3 nước thải/ngày đêm. Như vậy, tổng lượng nước thải công nghiệp của các KCN trên cả nước lên khoảng 500.
Thành phần nước thải của các KCN chủ yếu bao gồm các chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ (thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), các chất dinh dưỡng (biểu hiện 9 bằng hàm lượng tổng Nitơ và tổng Phốt pho) và kim loại nặng. Hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải KCN thường xuyên vượt ngưỡng cho phép. Kết quả phân tích mẫu nước thải từ các KCN cho thấy, nước thải các KCN có hàm lượng các chất lơ lửng (SS) cao hơn QCVN từ 2 lần (KCN Hòa Khánh) đến hàng chục lần (KCN Điện Nam– Điện Ngọc). Chất lượng nước thải đầu ra của các KCN phụ thuộc rất nhiều vào việc nước thải có được xử lý hay không.
Tính đến cuối năm 2012, trong số 179 KCN đang hoạt động có 145 KCN đã có hệ thống xử lý nước thải (XLNT) tập trung, chiếm hơn 80% tổng số KCN, và 25 KCN đang xây dựng hệ thống XLNT tập trung trong năm 2012, đầu năm 2013. Nhiều KCN đã có hệ thống XLNT tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp. Nhiều nơi doanh nghiệp xây dựng hệ thống XLNT cục bộ nhưng không vận hành hoặc vận hành không hiệu quả. Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả thải ra môi trường đều có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với quy chuẩn Việt Nam (QCVN).
Ô nhiễm do khí thải, tiếng ồn Tại các KCN, ô nhiễm khí bụi và tiếng ồn là loại hình ô nhiễm khó kiểm soát và không được quan tâm. Khí thải của các cơ sở SX chứa nhiều chất độc hại được xả trực tiếp vào môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân quanh vùng. Theo kết quả quan trắc, nồng độ chất SO 2 , CO và NO 2 gần KCN hoặc các KCN đang gia tăng. Nồng độ bụi tại ven các trục giao thông chính đều đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-6 lần.
Tại nhiều nhà máy cơ khí, luyện kim, công nghiệp hóa chất, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến khoáng sản. trong KCN, nống độ bụi và khí độc hại (điển hình là khí SO 2 ) trong không khí vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-5 lần. Ô nhiễm do chất thải rắn Lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh từ các KCN đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN, phần lớn tập trung tại các KCN ở vùng KTTĐ Bắc Bộ và vùng KTTĐ phía Nam. Nếu như tính trung bình cả nước, năm 2005 – 2006, một ha diện tích đất cho thuê phát sinh CTR khoảng 134 tấn/năm, thì đến năm 2008 – 2009, con số này đã tăng lên 204 tấn/năm (tăng 50%).
Theo thống kê năm 2011, 10 mỗi ngày các KCN nước ta thải ra khoảng 8 nghìn tấn chất thải rắn, tương đương khoảng ba triệu tấn một năm. Dự báo tổng phát thải CTR từ các KCN năm 2020 đạt từ 9 đến 13,5 triệu tấn/năm. CTNH chiếm khoảng 15-20% lượng CTR công nghiệp. Đây là nguồn ô nhiễm tiềm tàng rất đáng lo ngại cho môi trường sức khỏe của cộng đồng.