CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học 1. Cơ sở lý thuyết Đề tài Áp dụng các tiếp cận sinh thái cho KCN Hiệp Phước định hướng KCN thân thiện môi trường dựa trên nền tảng áp dụng thuyết sinh thái công nghiệp và thuyết hiện đại hóa sinh thái để đưa ra mô hình kỹ thuật xây dựng hệ sinh thái khu công nghiệp không ô nhiễm và hướng dẫn phát triển KCN Hiệp Phước hiện hữu định hướng KCN thân thiện môi trường.
Sinh thái học công nghiệp a. Lịch sử phát triển thuyết sinh thái công nghiệp Công nghiệp sinh thái là phân tích hệ thống ở mức độ cao để làm rõ mối tương tác giữa các hệ thống công nghiệp và các hệ thống tự nhiên.Phương pháp luận phân tích hệ thống bắt đầu từ những năm 1960 và 1970 bởi Jay Forrester tại MIT. Năm 1989, khái niệm “industrial ecosystems” được phát triển bởi Robert Frosch và Nicholas Gallopoulos đã đưa đến thuật ngữ “industrial ecology”. Định nghĩa này đã được cải tiến trong một ấn phẩm Ngân hàng phát triển châu Á năm 2001 (Lowe 2001) như sau: "Một khu sinh thái công nghiệp là một cộng đồng của các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ nằm cùng trên một khu công nghiệp.
Các doanh nghiệp thành viên tìm kiếm nâng cao hiệu quả môi trường, kinh tế và xã hội thông qua sự hợp tác trong việc quản lý đề môi trường và sử dụng tài nguyên. Bằng cách làm việc cùng nhau, cộng đồng các doanh nghiệp tìm kiếm một lợi ích tập thể lớn hơn tổng lợi ích cá thể của mỗi doanh nghiệp thay vì chỉ tối ưu hóa hiệu suất của từng doanh nghiệp.” -7- Mục tiêu của một khu công nghiệp sinh thái là để cải thiện hiệu quả kinh tế, giảm thiểu tác động môi trường của các công ty tham gia.Các thành phần của phương pháp này bao gồm thiết kế xanh cho cơ sở hạ tầng và các nhà máy xanh (mới hoặc trang bị thêm); sản xuất sạch hơn, phòng ngừa ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng và quan hệ đối tác giữa các công ty.Một khu công nghiệp sinh thái cũng tìm lợi ích cho các cộng đồng lân cận nhằm đảm bảo rằng các tác động đến sự phát triển là tích cực. Định nghĩa này hiện đang chấp nhận rộng rãi bởi nhà sáng tạo trong lĩnh vực phát triển sinh thái công nghiệp như Marian Chertow tại Đại học Yale (Chertow 2004) và Ray Cote tại Dalhousie, Đại học, Canada (Cote 2004), cũng như Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP 2001), Hội đồng Tổng thống Hoa Kỳ về Phát triển bền vững được thành lập dưới thời Tổng thống Clinton (PCSD 1997), mạng bất động sản sinh thái công nghiệp châu Á (www.org), và Cơ quan môi trường châu Âu (http://glossary.int/EEAGlossary/E/eco-industrial_park). Xây dựngkhu công nghiệp sinh thái là xây dựng một hệ công nghiệp gồm nhiều nhà máy hoạt động độc lập nhưng kết hợp với nhau một cách tự nguyện, hình thành quan hệ cộng sinh giữa các nhà máy với nhau và với môi trường(Salversen, 1996).Như vậy, các nhà máy trong khu công nghiệp sinh thái cố gắng đạt được những lợi ích kinh tế và hiệu quả bảo vệ môi trường chung thông qua việc quản lý hiệu quả năng lượng, nước và nguyên liệu sử dụng (Fairfiel, 1996).
Theo nghiên cứu của trường Đại Học Cornell (Fairfield, 1996), một khu công nghiệp sinh thái phải bao gồm các nhà máy cộng tác với nhau trên cơ sở phối hợp: - Trao đổi các loại sản phẩm phụ; - Tái chế, tái sử dụng sản phẩm phụ tại nhà máy, với các nhà máy khác và theo hướng bảo toàn tài nguyên thiên nhiên; - Các nhà máy phấn đấu sản xuất sản phẩm thân thiện với môi trường (sản phẩm sạch); - Xử lý chất thải tập trung; -8- - Các loại hình công nghiệp phát triển trong khu công nghiệp được quy hoạch theo định hướng bảo vệ môi trường của khu công nghiệp sinh thái; - Kết hợp giữa phát triển công nghiệp với các khu vực lân cận (vùng nông nghiệp, khu dân cư,…) trong chu trình trao đổi vật chất (nguyên liệu, sản phẩm, phế phẩm, chất thải). Bên cạnh đó, khi xây dựng khu công nghiệp sinh thái cần đạt [14]: - Sự tương thích về loại hình công nghiệp theo nhu cầu nguyên vật liệu - năng lượng và sản phẩm – phế phẩm – chất thải tạo thành. - Sự tương thích về quy mô. Các nhà máy phải có quy mô sao cho có thể thực hiện trao đổi vật chất theo nhu cầu sản xuất của từng nhà máy [16], nhờ đó giảm được chi phí vận chuyển, chi phí giao dịch, và gia tăng chất lượng của vật liệu trao đổi.
- Giảm khoảng cách giữa các nhà máy. Giảm khoảng cách giữa các nhà máy sẽ giúp hạn chế thất thoát nguyên vật liệu trong quá trình trao đổi, giảm chi phí vận chuyển và chi phí vận hành đồng thời dễ dàng hơn trong việc truyền đạt và trao đổi thông tin. Những lợi ích chính khi phát triển khu công nghiệp sinh thái: - Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn tài chính; - Giảm chi phí sản xuất, nguyên vật liệu, năng lượng, bảo hiểm và xử lý đồng thời giảm được gánh nặng trách nhiệm pháp lý về mặt môi trường; - Cải thiện hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và môi trường, tạo được ấn tượng tốt đối với người tiêu dùng; - Gia tăng thu nhập cho từng nhà máy nhờ giảm mức tiêu thụ nguyên liệu thô, giảm chi phí xử lý chất thải đồng thời có thêm thu nhập từ nguồn phế phẩm/phế liệu hay vật liệu thải bỏ của nhà máy. Thuyết hiện đại hóa sinh thái a.
Lịch sử phát triển của thuyết hiện đại hóa sinh thái (Ecological modernization- EM) gồm có 3 giai đoạn chính: -9- - Khởi đầu của lý thuyết, Huber (1982) đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò đổi mới công nghệ mà phần lớn diễn tiến trong không gian sản xuất công nghiệp, chỉ trích nhà nước quan liêu và ca ngợi động lực thị trường. - Cuối những năm 1980 trở đi, cho thấy những động lực về thể chế và văn hóa chiếm vị trí trọng tâm trong hiện đại hóa sinh thái. Trong cả 2 giai đoạn, bối cảnh thực tế diễn ra tập trung tại Bắc và Tây Âu. - Từ những năm 1980, lý thuyết hiện đại hóa sinh thái (EM) được mở rộng và thực nghiệm trong các quốc gia khác.
Việc nghiên cứu chuyển từ không gian sản xuất sang không gian tiêu thụ. Hiện nay chú ý đến động lực quốc tế và toàn cầu của hiện đại hóa sinh thái. Đặc điểm chính của thuyết hiện đại hóa sinh thái - Hiện đại hóa sinh thái là một quá trình xã hội mà đa phần dựa trên những thể chế hiện đại của khoa học hoặc khoa học và công nghệ; kinh tế thị trường; kinh tế tín dụng; xây dựng nhà nước hiện đại hoặc quản lý nhà nước hiện đại; luật pháp hiện đại (công cộng hoặc tư nhân); và trên nguyên tắc đạo đức “hoạt động và theo đuổi hạnh phúc liên quan đến hoạt động và trách nhiệm mỗi cá nhân” (Huber 1982). - Hiện đại hóa sinh thái là việc tái tổ chức theo hướng thân thiện với môi trường các quá trình sản xuất và tiêu thụ của những điều kiện thể chế hiện đại.
Tất cả những hoạt động kinh tế phải được xem xét, xử xự và thiết kế không chỉ từ viễn cảnh kinh tế mà còn ở viễn cảnh sinh thái. Hiện đại hóa sinh thái xuất phát từ viễn cảnh kéo dài của sự thỏa hiệp cần thiết giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Bốn đặc trưng của thuyết hiện đại hóa sinh thái 1. EM khẳng định khoa học và công nghệ hiện đại là những thể chế trung tâm của việc cải tổ sinh thái và không là nguyên nhân phá hoại môi trường.
Sự chuyển dịch từ công nghệ môi trường thế hệ đầu (xử lý cuối nguồn và công nghệ làm sạch) đến thế hệ công nghệ thứ 2 (gắn kết vào quá trình, ngăn ngừa, sản xuất sạch hơn, sinh thái công nghiệp). EM nhấn mạnh vai trò của các tác nhân kinh tế và động lực thị trường trong việc cải tạo sinh thái. EM xác nhận rằng môi trường và những tác nhân kinh tế như người sản xuất (người gây ô nhiễm), cơ quan tín dụng, công ty bảo hiểm, hiệp hội doanh nghiệp, người tiêu thu, khách hàng và các công ty dịch vụ) ngày càng chia sẽ trách nhiệm cải tạo môi trường bên cạnh vai trò truyền thống của nhà nước. EM nhấn mạnh sự chuyển dịch vai trò của nhà nước, những thay đổi về chính sách môi trường từ đối phó chữa trị sang ngăn ngừa, từ việc xây dựng chính sách kiểu “đóng cửa” sang kiểu “cùng tham dự”, từ quản lý tập trung sang phân cấp, từ phong cách “cứng nhắc” sang “linh động”.
Xu hướng này thường dẫn đến hiện đại hóa thể chế nhà nước (political modernization). EM định nghĩa lại vị trí và vai trò của các phong trào xã hội trong quá trình chuyển dịch sinh thái. Các phong trào môi trường đã chuyển dịch từ việc chỉ trích bên ngoài đến sự tham gia tích cực hơn trong các thể chế đưa ra quyết định liên quan đến cải tạo môi trường. Cơ sở pháp lý Cơ sở pháp lý về phát triển khu công nghiệp thân thiện với môi trường: hiện nay các văn bản pháp quy của Việt Nam chưa đề cập cụ thể, trực tiếp đến việc phát triển mô hình khu công nghiệp thân thiện với môi trường.
Tuy nhiên, các nội dung liên quan đến: (1) “bảo vệ môi trường và phát triển bền vững”, (2) “giảm phát sinh chất thải, giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính”, (3) “tăng cường tái sử dụng, thu hồi, tái chế chất thải”, (4) “tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và năng lượng”, (5) “phát triển thân thiện với môi trường” đều được đưa vào các văn bản pháp quy đã ban hành. Những nội dung này mặc dù không trực tiếp đề cập đến yêu cầu bắt buộc phát triển theo mô hình công nghiệp sinh thái nhưng việc thực thi các yêu cầu này thực sự hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt động “tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng”, “giảm phát sinh chất thải tại nguồn”, - 11 - “thu hồi, tái sử dụng, tái chế chất thải (3R)”, “trao đổi chất thải”, “phát triển thân thiện với môi trường, bảo đảm nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ sức khỏe cộng đồng”. Đây là những yếu tố cần thiết, đặc trưng và định hướng cho việc phát triển khu công nghiệp thân thiện với môi trường. Cơ sở pháp lý về bảo vệ môi trường: chấp hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề quan trọng trong tiến trình cải thiện chất lượng môi trường của Việt Nam.