phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận án gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh Chƣơng 3: Thực trạng phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2020 Chƣơng 4: Một số định hướng và giải pháp về phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2030 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc Khái niệm về tăng trưởng xanh có nguồn gốc đầu tiên từ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Tại Hội nghị cấp Bộ trưởng về Môi trường và Phát triển (MCED) diễn ra vào tháng 3 năm 2005 tại Seoul - Hàn Quốc, 52 Chính phủ và các tổ chức liên quan từ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã thống nhất để chuyển phát triển kinh tế theo hướng bền vững và theo đuổi con đường tăng trưởng xanh. Tại cuộc gặp gỡ Bộ trưởng của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) vào tháng 6/2009, 30 thành viên của Tổ chức và 5 quốc gia sắp trở thành thành viên (đóng góp tới gần 80% kinh tế toàn cầu) đã phê chuẩn tuyên bố chung rằng ―Xanh‖ và ―Tăng trưởng‖ phải đi đôi với nhau và đề xuất OECD phát triển một chiến lược tăng trưởng xanh để mang kinh tế, môi trường, công nghệ, tài chính và các khía cạnh của phát triển vào trong một khung phát triển toàn diện nhất [].
Từ đây, OECD trở thành nhân tố chủ đạo và quan trọng nhất cho tăng trưởng xanh và hỗ trợ các nỗ lực của các quốc gia để xây dựng và thực hiện tăng trưởng xanh quốc gia. tăng trưởng xanh, theo OECD, đó là một cách tiếp cận mới đối với mô hình phát triển kinh tế gắn với thúc đẩy bền vững về môi trường, các bon thấp và một xã hội phát triển toàn diện. Tăng trưởng xanh quay ngược các giới hạn về tài nguyên và khủng hoảng về khí hậu thành các cơ hội phát triển kinh tế thông qua việc đầu tư vào phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội gắn với việc sử dụng ít tài nguyên hơn, thải ít chất thải hơn đối với các hoạt động kinh tế quan trọng như sản xuất thực phẩm, giao thông và vận tải, xây dựng, công nghiệp nặng, năng lượng và nước [123]. Các nghiên cứu về tăng trưởng xanh Tăng trưởng xanh là một hướng tiếp cận mới của nhân loại vào những năm 2000 nhưng không tách rời với khái niệm truyền thống là phát triển bền vững.
Tăng trưởng xanh được tiếp cận bởi nhiều tổ chức và chính phủ khác nhau nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau. Thống kê của UNDESA [119] cho biết có ít nhất 13 10 định nghĩa chính thức khác nhau về tăng trưởng xanh của các quốc gia và các tổ chức trên thế giới. Theo World Bank [126] tăng trưởng xanh là mô hình tăng trưởng hiệu quả, sạch và có khả năng phục hồi (resilient) – hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, sạch trong việc giảm thiểu tác động gây ô nhiễm môi trường, và có tính đàn hồi, chống chịu được trước các thiên tai, thảm họa thiên nhiên do tôn trọng giới hạn tuyệt đối của môi trường sinh thái. Viện tăng trưởng xanh toàn cầu định nghĩa tăng trưởng xanh là mô hình phát triển mang tính cách mạng để duy trì tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn đảm bảo tính bền vững về khí hậu và môi trường.
Mô tả và giải thích tiềm năng tăng trưởng xanh để giải thích sự phát triển kinh tế và các thách thức về môi trường bền vững cho thấy rằng tăng trưởng xanh là cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững.Tăng trưởng xanh là cần thiết và cho thấy sự hiệu quả về kinh tế. Điều này rất quan trọng đối với tương lai của các nước đang phát triển và nó có thể dẫn đến những thành tựu kinh tế và xã hội quan trọng. Về cơ bản, các chính sách tăng trưởng xanh đưa ra các yếu tố môi trường vào quá trình ra quyết định kinh tế bằng cách đưa ra các cân nhắc về hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên, chuyển đổi hệ thống năng lượng, định giá vốn tự nhiên trong tính toán kinh tế và định giá các yếu tố môi trường bên ngoài. Tầm quan trọng của sự công bằng về tăng trưởng xanh được nhấn mạnh bởi một số tác giả, nêu bật mối liên hệ giữa phát triển xã hội và tính bền vững môi trường.
Hầu hết các nước đều có các mục tiêu phát triển tương thích với các cách tiếp cận tăng trưởng xanh, mặc dù chiến lược cụ thể về tăng trưởng xanh sẽ khác nhau giữa các quốc gia. Tuy nhiên cũng có những quan điểm trái ngược cho rằng sự hy vọng vào việc tăng trưởng xanh sẽ đưa ra một lộ trình nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo là không hợp lý. Đối với các nước áp dụng tăng trường xanh, sự thoát nghèo có thể đến chậm hơn nhiều so với các nước áp dụng tăng trưởng theo cách truyền thống. Cuộc tranh luận lên đến đỉnh điểm khi liên quan đến việc chấp nhận hay không chấp nhận các chi phí điều chỉnh ngắn hạn trong kỳ vọng với lợi ích dài hạn.
Hầu 11 hết các chính sách xanh đều có chi phí kinh tế trong ngắn hạn mặc dù lợi ích kinh tế từ môi trường tốt hơn và vốn tự nhiên về lâu dài bền vững hơn. Các chính sách tăng trưởng xanh cần phải điều chỉnh trong ngắn hạn và dài hạn, bằng cách tối đa hóa sự hiệp lực [120]. Theo đó, Ngân hàng thế giới [127] đề xuất tăng trưởng xanh nên tập trung vào những gì cần phải làm trong vòng năm đến mười năm tới để tạo ra những lợi ích ngay lập tức và tránh bị khóa chặt vào các bước đi không bền vữngNhững nghiên cứu về tăng trưởng xanh ở các nước đang phát triển là rất giới hạn và phần lớn liên quan đến tiềm năng của các chính sách tăng trưởng xanh các nền kinh tế mới nổi, và xây dựng các chiến lược tăng trưởng xanh. Tăng trưởng xanh đã được đề xuất như là một biện pháp cho các nền kinh tế mới nổi đang phát triển nhanh như Braxin, Trung Quốc, Ấn Độ và Inđônêxia nhằm giải quyết vấn đề giảm phát thải khí nhà kính và sự xuống cấp về môi trường mà sự tăng trưởng của họ đã mang lại.
Các nghiên cứu về phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh Công nghiệp xanh (Green Industry) hay phát triển công nghiệp theo định hướng tăng trưởng xanh được định nghĩa là phát triển sản xuất công nghiệp mà không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên cũng như gây ra hậu quả có hại cho sức khỏe của con người. Công nghiệp xanh hướng đến lồng ghép các vấn đề môi trường và xã hội vào các hoạt động của doanh nghiệp và của các ngành công nghiệp. Cũng theo UNIDO [120], hai nội dung chủ yếu của công nghiệp xanh bao gồm: (1) Xanh hóa các ngành công nghiệp hiện có: cải tạo các ngành công nghiệp hiện tại theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao hiệu quả môi trường và giảm thiểu rủi ro sức khỏe; và (2) Tạo ra các ngành công nghiệp xanh: hình thành hệ thống các ngành công nghiệp xanh mới như năng lượng tái tạo, quản lý, vận chuyển, tái chế chất thải, kiểm soát ô nhiễm không khí, cung cấp dịch vụ theo dõi, đo lường và phân tích chất lượng môi trường. Theo Jan Harmsen Joseph B.
Powell [95] đã cung cấp một bức tranh tổng quát và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp công nghiệp tiếp tục phát triển trước những thách thức về môi trường và xã hội trong sản xuất. Từ việc tổng quan các định nghĩa về phát triển bền vững, các tác giả đã khẳng định vai trò cũng như ảnh hưởng của phát triển công nghiệp 12 đối với phát triển bền vững. Với những nghiên cứu định lượng các trường hợp cụ thể trong các ngành hoá chất, dầu khí, sản xuất vật liệu và khai thác khoáng sản, Cuốn sách giới thiệu các cách thức cho các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ sử dụng hiệu quả tài nguyên thông qua việc hợp tác giữa các ngành công nghiệp khác nhau để đạt được sự phát triển theo quan điểm phát triển bền vững trên cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Cuốn sách này đã cung cấp thêm cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu sinh tiếp cận phát triển công nghiệp theo hướng bền vững trên 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
Hart và Ahuja [91] tổng kết lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, và đưa ra hai biện pháp cơ bản nhằm giảm thiểu chất thải, bao gồm: (i) Kiểm soát, nghĩa là chất thải sẽ được lưu trữ, xử lí và thải loại thông qua các thiết bị kiểm soát chất thải; và (ii) Ngăn ngừa, nghĩa là chất thải sẽ được giảm bớt, biến đổi, hoặc thay thế từ trong quá trình sản xuất bằng cách đầu tư công nghệ sản xuất phù hợp. Như vậy, dù với bất kì biện pháp nào, việc xanh hóa hoạt động sản xuất đều đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành đầu tư thiết bị và/hoặc cải tiến công nghệ. Các chính sách thúc đẩy xanh hoá hoạt động sản xuất phải điều chỉnh được quá trình sản xuất công nghiệp theo hướng giảm chất thải nguy hại đến môi trường, các chính sách phải thúc đẩy các doanh nghiệp: (i) Đầu tư công nghệ sản xuất mới theo hướng giảm thiểu chất thải hoặc quy định bắt buộc đầu tư hệ thống xử lí chất thải kết nối giữa đầu ra của quá trình sản xuất và hấp thu của môi trường tự nhiên; và (ii) Đầu tư tài chính và nhân lực nhằm kiểm soát quá trình khai thác tài nguyên và xả thải của doanh nghiệp đối với môi trường tự nhiên. UNIDO [121], Từ kết quả điều tra và nghiên cứu tài liệu môi trường ô nhiễm ở cấp độ vi mô doanh nghiệp, hộ gia đình tại các làng nghề ở Việt Nam, cụ thể là làng Bình Yên, Nam Định và thí điểm xây dựng mô hình thành phố sinh thái tại Hội An, đánh giá toàn diện về cơ hội và thách thức cho việc giải quyết một số vấn đề cấp bách nhất của Việt Nam về môi trường công nghiệp trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay.
Báo cáo có đánh giá toàn diện về cơ hội và thách thức cho việc giải quyết một số vấn đề cấp bách nhất của Việt Nam về môi trường công nghiệp trong bối cảnh kinh tế 13 xã hội hiện nay.