đặt vấn đề không thể bỏ qua vì trong mọi trường hợp, các cơ quan quản lý lãnh thổ có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng và ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển của công nghiệp nông thôn trên vùng lãnh thổ do họ quản lý, tới sự thành bại, tới khả năng triển khai bất kỳ dự án hay chương trình phát triển công nghiệp nông thôn nào. Với cách tiếp cận từ giác độ kinh tế ngành thì công nghiệp nông thôn được xem như một bộ phận của toàn bộ công nghiệp, có đặc điểm là phân bố ở nông thôn, gắn bó với các đơn vị sản xuất kinh doanh khác trong ngành bởi 8 những quan hệ kinh tế- kỹ thuật, việc phát triển nó phải được đặt trong chương trình phát triển công nghiệp nói chung, là một nội dung của công nghiệp hóa. Theo cách tiếp cận này, phát triển công nghiệp nông thôn được xem như một nội dung của phân bố địa lý công nghiệp và phát triển công nghiệp toàn quốc cũng như từng khu vực theo những bước đi khác nhau, theo phương thức tuần tự từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ phân tán đến tập trung [26, tr. Với cách tiếp cận từ khía cạnh kinh tế- xã hội, công nghiệp nông thôn được xem là toàn bộ những hoạt động sản xuất có tính công nghiệp ở nông thôn, là những biện pháp góp phần phát triển kinh tế- xã hội nông thôn và giải quyết những nhiệm vụ kinh tế- xã hội ở nông thôn nói chung và mỗi vùng nông thôn cụ thể nói riêng [26, tr.
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp nông thôn như sau: Theo GS. Nguyễn Điền “công nghiệp nông thôn là một hệ thống các hoạt động kinh tế công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, bên cạnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp”[8]. Nguyễn Văn Phúc “công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp, có những trình độ phát triển khác nhau, phân bố ở nông thôn và gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế- xã hội ở nông thôn bao gồm những đơn vị sản xuất công nghiệp và có tính chất công nghiệp chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp với nhiều hình thức tổ chức, nhiều hình thức pháp lý, sản xuất của chúng đang tách ra khỏi nông nghiệp, tiếp tục phát triển, phục vụ nông nghiệp và gắn bó với nông nghiệp ở trình độ cao hơn” [26, tr. Theo GS,TS.
Nguyễn Đình Phan, “công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp cả nước, được phân bố ở nông thôn và có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế- xã hội ở nông thôn, bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ kinh tế gia đình, các doanh nghiệp thuộc các 9 thành phần kinh tế khác nhau, sản xuất kinh doanh trên cơ sở khai thác các nguồn lực ở địa phương, phục vụ thị trường địa phương, trong nước và nước ngoài” [24, tr. Dưới góc độ pháp lý và quản lý nhà nước, theo Nghị định 134/2004/NĐ-CP ngày 9 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ thì cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn là các tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư, sản xuất công nghiệp tại huyện, thị xã, thị trấn và xã bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước; Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; Hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã; Hộ kinh doanh cá thể theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Hoạt động trong các lĩnh vực: Công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản; Sản xuất sản phẩm sử dụng nguyên liệu tại chỗ, sử dụng nhiều lao động; Sản xuất sản phẩm mới, hàng thay thế hàng nhập khẩu, hàng xuất khẩu sử dụng chủ yếu nguyên liệu trong nước; Sản xuất sản phẩm, phụ tùng, lắp ráp và sửa chữa máy cơ khí nông nghiệp; Thủy điện nhỏ, điện sử dụng năng lượng mới hoặc năng lượng tái tạo có công suất lắp đặt dưới 10.000 kW để cung cấp điện cho nông thôn, vùng sâu, vùng xa; Sản xuất, gia công chi tiết, bán thành phẩm và dịch vụ cho các cơ sở sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh; Đầu tư vốn xây dựng kết cấu hạ tầng cho cụm, điểm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và làng nghề [4, tr. Như vậy, từ những quan niệm khác nhau về công nghiệp nông thôn và từ thực tiễn nước ta, theo chúng tôi khái niệm về công nghiệp nông thôn có thể được hiểu như sau: Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp cả nước được phân bố ở nông thôn, bao gồm các cơ sở sản xuất công nghiệp với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu thuộc nhiều thành phần kinh tế có nhiều hình thức tổ chức và trình độ phát triển khác nhau, hoạt động gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế- xã hội ở nông thôn do địa phương quản lý về mặt nhà nước.
10 Khái niệm này đã thể hiện đầy đủ các cách tiếp cận từ các giác độ. Nó xác định được quan hệ kinh tế- kỹ thuật, quan hệ kinh tế- xã hội và quan hệ sản xuất của công nghiệp nông thôn. Đồng thời đã chỉ ra được hình thức tổ chức, quy mô, trình độ, mục tiêu của sự phát triển công nghiệp nông thôn. Như vậy theo khái niệm này chỉ những cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn có những tiêu chí sau đây mới thuộc khái niệm công nghiệp nông thôn: - Tạo nhiều việc làm mới, đẩy mạnh phát triển phân công lao động xã hội, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống dân cư ở nông thôn.
- Thu hút lao động từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn. - Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn từ thuần nông sang cơ cấu nông- công nghiệp và dịch vụ. - Tạo điều kiện thúc đẩy xã hội nông thôn phát triển văn minh, hiện đại. - Phát triển phù hợp với chương trình kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở địa bàn nông thôn và do chính quyền cấp huyện, xã quản lý về mặt nhà nước.
Các cơ sở công nghiệp nằm trong khu chế xuất, khu công nghiệp lớn hoặc ngoài khu công nghiệp do thành phố hay trung ương quản lý tuy ở trên địa bàn nông thôn nhưng không thuộc vào khái niệm công nghiệp nông thôn. Với khái niệm công nghiệp nông thôn nêu trên có thể thấy cơ cấu của công nghiệp nông thôn như sau: - Về ngành nghề, công nghiệp nông thôn bao gồm các ngành chính: + Chế biến nông, lâm, thủy sản tại nông thôn. + Khai thác sản xuất vật liệu xây dựng ở quy mô nhỏ và vừa. + Cơ khí chế tạo, sửa chữa nông cụ, hóa chất.
+ Sản xuất tư liệu tiêu dùng, gia dụng, mỹ nghệ. - Về cơ cấu loại hình tổ chức sản xuất: có các hình thức tổ chức chủ yếu sau: 11 + Hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp. + Các tổ hợp, hợp tác xã chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp. + Các công ty, doanh nghiệp tư nhân.
Đặc điểm của công nghiệp nông thôn. Nhìn nhận một cách khái quát, công nghiệp nông thôn có các đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, công nghiệp nông thôn bao gồm nhiều loại hình, nhiều ngành nghề, nhiều quy mô trình độ phát triển khác nhau. Công nghiệp nông thôn bao gồm các cơ sở sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế, nhưng nhiều nhất là tư nhân và tập thể. Các doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa và nhỏ tuy một thời đã tồn tại khá nhiều ở nông thôn nước ta, nhưng trong thời gian qua đã giảm sút về số lượng và thay đổi về chức năng, nhiệm vụ và phương thức sản xuất kinh doanh, hiện đang được sắp xếp lại, được chuyển đổi hình thức sở hữu.
Các cơ sở thuộc công nghiệp nông thôn bao gồm cả những đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập, tự mình khai thác các yếu tố đầu vào, tự tổ chức quá trình sản xuất và đảm bảo tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) của mình, và cả những đơn vị chỉ làm gia công cho các đơn vị sản xuất kinh doanh lớn, thực hiện một số khâu công việc, một số giai đoạn công nghệ nhất định trong toàn bộ quá trình gia công, chế biến sản phẩm. Thứ hai, công nghiệp nông thôn gắn bó rất chặt chẽ với nông thôn và nông nghiệp. - Có sự đan xen, gắn bó giữa lao động của công nghiệp nông thôn với lao động nông nghiệp, nhiều lao động vừa làm nông nghiệp, vừa làm ngành nghề và có sự luân chuyển lao động giữa hai khu vực: lao động nông nghiệp chuyển sang làm ngành nghề, đồng thời lao động ngành nghề quay trở lại làm nông nghiệp. Hầu hết các hộ ở nông thôn tiến hành các hoạt động nông nghiệp lẫn các hoạt động phi nông nghiệp.
- Có sự gắn bó giữa công nghiệp với nông nghiệp và nông thôn trong việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng ở địa phương. Cả hai 12 khu vực kinh tế này đều sử dụng chung cơ sở hạ tầng ở nông thôn, mặc dù mỗi bộ phận có một số yêu cầu riêng biệt nhất định và mức độ khai thác, sử dụng cơ sở hạ tầng nông thôn có khác nhau. - Thị trường của công nghiệp nông thôn và nông nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau, trong nhiều trường hợp có sự đồng nhất ở một mức độ nhất định. Sự gắn bó này không chỉ tồn tại trên thị trường địa phương mà cả trên thị trường toàn quốc.
Mối quan hệ này thể hiện những nội dung có tính bản chất giữa công nghiệp và nông nghiệp. - Công nghiệp nông thôn gắn bó mật thiết với nông nghiệp và nông thôn trên các mặt kinh tế- xã hội. Đặc biệt, công nghiệp nông thôn phải tham gia giải quyết những vấn đề xã hội (hỗ trợ các đối tượng chính sách, tạo việc làm và thu hút lao động địa phương,…). Sự phát triển của công nghiệp nông thôn đồng thời cũng đòi hỏi mỗi địa phương phải có sự điều chỉnh đời sống xã hội một cách thích hợp, ví dụ như mối quan hệ giữa việc cung cấp mặt bằng sản xuất cho công nghiệp nông thôn với việc tổ chức khu dân cư, hệ thống giao thông nội bộ,… Thứ ba, sản phẩm của công nghiệp nông thôn đa dạng, phong phú nhưng quy mô nhỏ, phân tán, chất lượng chưa cao nhưng phù hợp với điều kiện của nông thôn, thu nhập của nông dân.