CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỤM CÔNG NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỤM CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc trưng và tầm quan trọng của CCN a. Khái niệm về CCN CCN là khu vực tập trung các DN, cơ sở sản xuất CN-TTCN, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất CN-TTCN; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các DN nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập.
Đặc trưng cơ bản của CCN CCN là mô hình khu công nghiệp quy mô nhỏ, được bố trí tại các huyện, thị xã, được hưởng các ưu đãi đầu tư sản xuất kinh doanh theo quy định riêng của tỉnh. Tại các CCN này có thể bố trí một số khu vực dành cho kinh doanh thương mại, dịch vụ phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh CN-TTCN và không ảnh hưởng tới tính chất và hoạt động sản xuất công nghiệp của CCN. CCN có quy mô diện tích không quá 50 ha, trường hợp cần thiết phải mở rộng CCN hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vượt quá 75 ha. Tầm quan trọng của CCN - CCN được quy hoạch chủ yếu để phục vụ cho mục tiêu phát triển CN-TTCN của các huyện, thành phố thuộc tỉnh; đối tượng thu hút chính là các DN có quy mô nhỏ và vừa trong địa phương (nhất là các DN thuộc thành phần kinh tế tư nhân, tiểu thủ công nghiệp), kết hợp kêu gọi các DN ngoài địa phương vào đầu tư phát triển sản xuất trong CCN.
Với quy mô trên, mỗi CCN 8 tối thiểu phải có đủ mặt bằng cho khoảng 30-35 cơ sở, DN hoạt động sản xuất để bảo đảm hiệu quả trong quá trình đầu tư xây dựng hạ tầng CCN. - Không bố trí các loại hình kinh doanh đơn thuần trong các CCN. Đối với các CCN có vị trí thuận lợi về giao thông cần quy hoạch bố trí một phần diện tích cho dịch vụ kho vận, trung chuyển hàng hóa… 1. Phân loại CCN Trên cơ sở chức năng của các CCN, hiện nay có một số loại hình CCN như sau: a.
CCN tổng hợp (đa ngành) Là CCN được hình thành trên địa bàn huyện, thường do UBDN cấp huyện thực hiện đầu tư và quản lý phát triển, nhằm thu hút đầu tư của các cơ sở sản xuất công nghiệp trong và ngoài địa phương. CCN tổng hợp thường có quy mô lớn hơn CCN làng nghề, diện tích ban đầu có thể từ 5-15 ha, giai đoạn sau phát triển lên khoảng 30-50 ha và có thể thu hút nhiều loại hình doanh nghiệp sản xuất công nghiệp khác nhau. Các CCN này thường được hình thành trên cơ sở nhu cầu của một số các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện có phải di dời hoặc cần phát triển mở rộng. Cũng có một số CCN tổng hợp do vài cơ sở sản xuất tự nguyện góp vốn xây dựng và tự thành lập ban quản lý riêng.
Nguồn vốn xây dựng các CCN này là do các cổ đông góp vốn, một phần là vốn vay ưu đãi của các địa phương. Nhiều CCN được sử dụng vốn ngân sách địa phương để làm công tác chuẩn bị đầu tư và xây dựng hạ tầng ngoài hàng rào. Cũng như CCN làng nghề, CCN tổng hợp cũng được khuyến khích phát triển và các địa phương có các chính sách ưu đãi khác nhau. Tiêu chí ưu đãi của chính sách thường dựa trên khả năng sử dụng nguyên liệu, nhân công tại chỗ và mức đóng góp cho ngân sách địa phương trên một đơn vị diện tích chiếm đất.
CCN làng nghề Đây là mô hình CCN tập trung quy mô nhỏ có diện tích ban đầu vào 9 khoảng 3-5 ha, sau có thể phát triển lên khoảng 15-20 ha, Ban quản lý chủ yếu ở cấp huyện với nhiệm vụ chính là theo dõi quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng hạ tầng, việc cho thuê và sử dụng đất đai. Mục tiêu là phục vụ việc chuyển di dời các cơ sở sản xuất của làng nghề ngay tại địa phương, nhằm mở rộng mặt bằng sản xuất, hoặc giải tỏa và xử lý ô nhiễm môi trường của các làng nghề. Các CCN làng nghề hầu như không có sự hiện diện của doanh nghiệp các làng nghề khác. Vốn đầu tư xây dựng các CCN làng nghề chủ yếu là vốn vay và vốn huy động từ các cơ sở sản xuất có nhu cầu di dời và mở rộng mặt bằng sản xuất của làng nghề.
Một số địa phương đã khuyến khích, ưu đãi phát triển CCN làng nghề thông qua hỗ trợ 50% kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống cung cấp điện, cấp thoát nước trong hàng rào CCN. Thực tiễn cho thấy, CCN làng nghề phát triển ở những nơi làng nghề đã phát triển, đất chật, người đông, môi trường sản xuất chật hẹp, có nguy cơ ô nhiễm cao thì giá trị sử dụng đất công nghiệp cao hơn đất nông nghiệp khoảng 3-5 lần. CCN chuyên ngành Là CCN mà trong đó hoạt động sản xuất công nghiệp gắn liền với nguồn nguyên liệu nông, lâm, thủy sản được hình thành ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng, trung du Bắc Bộ, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, là nơi nguyên liệu nông sản hàng hóa dồi dào như công nghiệp chế biến chưa phát triển. CCN hiện đại (như khu công nghiệp) Là CCN được xây dựng mới hoàn toàn, chủ yếu do các công ty nước ngoài hoặc các doanh nghiệp lớn trong nước đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng.
Nhìn chung, các CCN loại này có tốc độ xây dựng hạ tầng tương đối nhanh và chất lượng khá cao, tạo điều kiện hấp dẫn đầu tư đối với các công ty nước ngoài có công nghệ kỹ thuật cao, khả năng tài chính lớn và có chiến lược sản xuất kinh doanh lâu dài tại Việt Nam. Loại hình này, chủ yếu tập trung ở một số địa 10 phương có công nghiệp phát triển mạnh như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương… Ngoài ra, còn một số loại hình CCN đã được hình thành tại một số địa phương miền núi, có công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển. Đó là ở một số khu vực có vị trí địa lý thuận lợi để bố trí một vài điểm đầu tư phát triển công nghiệp trong tương lai 10-15 năm tới, với mục tiêu thực hiện các chính sách công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, sẽ có thể phát triển thêm các cơ sở sản xuất công nghiệp vệ tinh dự kiến trong tương lai cũng được khoanh vùng thành CCN và khu vực này được các địa phương ưu đãi, khuyến khích đầu tư bằng các chính sách thuê đất và các loại ưu đãi về thuế khác nhau. Phân biệt CCN với KCN, KCX và KKT a.
Điểm giống nhau Đều có diện tích đất sản xuất công nghiệp gồm nhiều doanh nghiệp hoạt động SXCN, có ranh giới địa lý xác định. Phân khu chức năng bao gồm các ngành truyền thống mà trong nước có lợi thế so sánh. KCN, KCX,KKT đều được thành lập theo quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ. Điểm khác nhau Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ.
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ. 11 Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ. Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế. Vai trò, vị trí của CCN đối với phát triển công nghiệp và tầm quan trọng của CCN ở nông thôn a.
Vai trò, vị trí của CCN đối với phát triển công nghiệp Trong tiến trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, các DN sản xuất CN-TTCN thuộc các thành phần kinh tế ngày càng được khuyến khích phát triển và có xu thế tăng nhanh do vậy nhu cầu mặt bằng với các điều kiện hạ tầng cần thiết phục vụ cho sản xuất là vấn đề tất yếu. Nếu cứ để hoạt động sản xuất CN-TTCN phát triển tự phát, thiếu định hướng quy hoạch sẽ dẫn đến tình trạng: - Sản xuất nằm phân tán, xen lẫn trong các khu dân cư, dễ xảy ra các vấn đề ô nhiễm môi trường, làm mất cảnh quan đô thị, khó thực hiện công tác quản lý và triển khai các chính sách khuyến khích, gây trở ngại cho việc phát triển và hiện đại hoá theo hướng bền vững. - Khó có điều kiện xây dựng hạ tầng cơ sở phục vụ chung cho sản xuất như cung cấp điện, nước, giao thông liên lạc, mặt bằng thuận lợi cho phát triển sản xuất khi có yêu cầu mở rộng cũng như đầu tư mới; hoặc nếu có thể được thì chi phí đầu tư cũng rất tốn kém. - Phát triển sản xuất CN-TTCN tự phát thường có xu hướng tập trung chủ yếu ở các vùng đô thị; bỏ trống các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa khó có điều kiện phát triển.
12 Do vậy cần phải tiến hành quy hoạch phát triển CCN trên phạm vi toàn tỉnh để đảm bảo yêu cầu phát triển công nghiệp theo hướng bền vững, đúng định hướng; thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần tăng trưởng GDP. Việc phát triển CCN còn nhằm tạo điều kiện thực hiện việc phân bổ và sắp xếp lại lực lượng sản xuất cũng như mở rộng sản xuất; thu hút đầu tư mới từ các nguồn lực trong và ngoài nước; từng bước xoá bỏ chênh lệch giữa các vùng nông thôn (đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa) so với khu vực thành thị.