Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách phát triển công. Nghiệp hỗ trợ. Chương 2: Thực trạng về thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG HỖ TRỢ 1. Một số k n ệm - Chính sách: Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội. Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những phản ứng của chính quyền. Những phản ứng đó khi định hình và thể hiện một cách chính thức được gọi dưới cái tên “Chính sách”.
CS là một công cụ quan trọng của quản lý “Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý như chiến lược, kế hoạch, CS và quyết định quản lý để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nh m đạt tới mục tiêu mong muốn” [5, tr. M c dù CS của nhà nước là vấn đề nghiên cứu từ rất lâu, nhưng chỉ trở thành vấn đề được xem xét có tính hệ thống từ vài thập kỷ gần đây. Sự phát triển của nó gắn với một số sự kiện lớn trên thế giới, đánh dấu sự thay đổi từ khi kết thúc thế chiến thứ hai. Khái niệm khoa học chính sách được Lasswell đề cập lần đầu tiên từ năm 1951.
Đến nay, khoa học chính sách đã có những phát triển mạnh m , trở thành một trong những nội dung trọng tâm của khoa học xã hội. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề CS, mỗi cách tiếp cận liên quan trực tiếp tới tính đ c thù của từng lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, xã hội,. Mỗi cách tiếp cận giúp người chu n bị quyết định CS một hướng tư duy. Từ thực tế CS của các ngành, các địa phương và các quốc gia, c ng như qua những cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu CS, dưới đây là một số định nghĩa khác nhau về CS: 10 - “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân ho c một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề” (James Anderson) [9, tr.
- Theo Từ điển tiếng Việt “Chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nh m đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra CS ” [16, tr. - Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa CS với pháp luật, tác giả Đinh D ng Sỹ cho r ng: “Chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được. Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật ch ng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách” [20]. Tóm lại, Chính sách được hiểu là tập hợp các biện pháp do các nhà lãnh đạo/nhà quản lý đề ra để giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội, là khung thể chế cho các hoạt động trong thực tiễn.
- Chính sách công Cụm từ “CS” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công” được gọi là CSC. Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành CS, về mục đích tác động của CS và vấn đề mà CS hướng tới giải quyết. Chính sách công là CS của nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước. CSC có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Đến nay, đã có nhiều định nghĩa về CSC, Thomas R.Dye cho r ng CSC là “bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm ho c không làm” [8, tr. William Jenkins đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một ho c một nhóm nhà hoạt động chính trị c ng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các phương thức để đạt được 11 mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi th m quyền” [8, tr. Theo tác giả, CSC là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn; đồng thời, định nghĩa này c ng cho thấy một cách rõ ràng CSC là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau” và quá trình CS là hành vi định hướng mục tiêu của nhà nước. Guy Peter cho r ng: “CSC là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” [9, tr.
Định nghĩa này kh ng định chủ thể ban hành và thực hiện CSC là nhà nước, đồng thời nhấn mạnh một khía cạnh quan trọng của CSC, đó là tác động của CSC đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân ho c một tổ chức cụ thể. CSC theo Nguyễn Duy Gia “là một tập hợp các quyết định hành động của Nhà nước nh m giải quyết một vấn đề đang đ t ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định. CSC do Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện nên CSC phản ánh bản chất của Nhà nước đó” [6, tr. Theo tác giả Lê Chi Mai: “CSC là thuật ngữ d ng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nh m giải quyết một vấn đề chung đang đ t ra trong đời sống KTXH theo mục tiêu xác định” [15, tr.
Đồng thời tác giả c ng nhấn những đ c trưng cơ bản của CSC như sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành CSC là Nhà nước; Thứ hai, các quyết định trong CSC này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn; Thứ ba, CSC được ban hành nh m giải quyết những vấn đề đ t ra trong đời sống KTXH theo những mục tiêu xác định; Thứ tư, CSC gồm nhiều quyết định có liên quan đến nhau. Như vậy có rất nhiều định nghĩa về “CSC” t y theo những góc độ tiếp cận khác nhau. Tựu chung lại, có thể hiểu “CSC là tập hợp các quyết định của 12 Nhà nước để giải quyết các vấn đề đ t ra trong đời sống của cộng đồng, người dân nh m hướng tới mục tiêu phát triển KTXH”. CSC thường có thể được phân biệt dựa theo các tiêu chí khác nhau.
Theo chủ thể ban hành: CS do Trung ương ban hành và CS do địa phương ban hành. Theo lĩnh vực: có CS kinh tế, CS xã hội, CS đối nội, CS đối ngoại. Theo thời gian tồn tại của CS gồm có CS dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Đối với CS phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Ngãi mà Luận văn này chọn làm chủ đề nghiên cứu thì chủ thể CS là cơ quan Trung ương ban hành, còn lĩnh vực đây là CS kinh tế, bao gồm các CS dài hạn, trung hạn và ngắn hạn.
- Tổ chức thực hiện CS công: là yêu cầu tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của CS với tư cách là công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản lý của nhà nước và c ng là để đạt mục tiêu mà CS theo đuổi. Như vậy, Tổ chức thực hiện CS công là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nh m hiện thực hóa nội dung CS công một cách hiệu quả [8, tr.126-127] - CS phát triển công nghiệp hỗ trợ + Khái niệm công nghiệp hỗ trợ: Công nghiệp hỗ trợ bắt đầu được quan tâm và nghiên cứu kể từ những năm 80 của thế kỷ trước, sau sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản. Các khái niệm, đ c điểm, vai trò c ng như các vấn đề liên quan của công nghiệp hỗ trợ đã được khá nhiều các nhà nghiên cứu và quản lý quan tâm và phát triển. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại nhìn nhận công nghiệp hỗ trợ dưới những quan điểm riêng, t y theo đ c điểm phát triển của mỗi nền kinh tế.
Ở Việt Nam, khái niệm và các vấn đề về công nghiệp hỗ trợ chỉ mới được đề cập từ đầu những năm 2000 trở lại đây, c ng với sự gia tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực chế tạo. Cùng với sự thiếu hụt về hệ thống lý luận và nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ, hệ thống CS riêng biệt cho 13 ngành này c ng chưa hoàn thiện, dẫn đến những hạn chế nhất định trong sự phát triển của khu vực này. Nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định CS sử dụng thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ”, “công nghiệp phụ trợ”. Trên thực tế, thuật ngữ này trở nên thông dụng ở Nhật Bản vào khoảng giữa những năm 1980 khi được Chính phủ Nhật Bản sử dụng trong các văn bản tài liệu của mình và sau đó được sử dụng rộng rãi ở các nước Châu Á.
Khái niệm CNHT ra đời và được chính phủ Nhật Bản chính thức sử dụng vào khoảng thời gian này, bởi sự phát triển mang tính lịch sử của nền kinh tế những năm đó. Sự tăng giá của đồng tiền Nhật Bản đã làm cho các doanh nghiệp Nhật giảm xuất kh u các sản ph m cuối cùng và chuyển các cơ sở sản xuất sang các nước có chi phí nhân công rẻ hơn. Tuy nhiên các nhà lắp ráp Nhật Bản ở nước ngoài vẫn phải nhập kh u linh phụ kiện từ các DN Nhật Bản vì các doanh nghiệp tại nước sở tại không thể đáp ứng. Thuật ngữ CNHT lúc đó được d ng để chỉ sự thiếu hụt các ngành công nghiệp như vậy ở các nước này.
Sau đó, thuật ngữ này đã được phổ biến đến các nước châu Á khác cùng với các chương trình hỗ trợ của Nhật Bản như New Aid lan năm 1987, chương trình phát triển CNHT châu Á năm 1993. Ở Nhật Bản, CNHT được hiểu là “một nhóm các hoạt động công nghiệp cung ứng các đầu vào trung gian (không phải nguyên vật liệu thô và các sản ph m hoàn chỉnh) cho các ngành công nghiệp hạ nguồn”. Nói cách khác, CNHT n m ở phần giữa của quá trình sản xuất, từ thượng nguồn xuống đến hạ nguồn. Đ c biệt là, CNHT nên dựa vào một số công đoạn sản xuất nhất định, phục vụ một số ngành công nghiệp nhất định tương đối tương đồng nhau (hình 1.