Tổng quan nghiên cứu
Công nghiệp hỗ trợ giữ vai trò là xương sống trong chuỗi giá trị chế tạo, trực tiếp quyết định khả năng cạnh tranh và mức độ tự chủ của toàn bộ nền kinh tế. Tại Việt Nam, Quyết định số 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đặt mục tiêu chiến lược đến năm 2020 sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đáp ứng khoảng 45% nhu cầu sản xuất nội địa và đạt 65% vào năm 2025. Tỉnh Quảng Ngãi sở hữu vị thế địa kinh tế đặc biệt trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với diện tích 5.152,49 km2, quy tụ 01 Khu kinh tế Dung Quất, 04 Khu công nghiệp tập trung và 22 cụm công nghiệp - làng nghề. Nơi đây là trung tâm công nghiệp nặng quy mô lớn của cả nước với Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cùng các tổ hợp luyện cán thép, cơ khí chế tạo.
Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh giai đoạn 2011 - 2016 đạt 7,3%/năm, ngành công nghiệp hỗ trợ tại địa phương vẫn phát triển tự phát, manh mún và chưa hình thành được mạng lưới liên kết sản xuất đồng bộ. Phần lớn các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh phải nhập khẩu nguyên phụ liệu, khiến tỷ lệ nội địa hóa duy trì ở mức rất khiêm tốn. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công của học viên Nguyễn Đức Huy, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Phú Thái tại Học viện Khoa học Xã hội, tập trung phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2011 - 2016. Đề tài làm rõ những rào cản thể chế, sự thiếu hụt nguồn lực quản lý và đưa ra các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ bền vững, tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công kết hợp cùng lý thuyết phân công lao động và liên kết chuỗi giá trị trong kinh tế học công nghiệp. Các khái niệm nền tảng bao gồm: chính sách công, tổ chức thực hiện chính sách công, công nghiệp hỗ trợ, chuỗi cung ứng và năng lực hấp thụ thể chế. Tổ chức thực thi chính sách được định vị là giai đoạn trung tâm kết nối giữa hoạch định và hiện thực hóa mục tiêu quản lý nhà nước.
Theo khung tiếp cận của Nhật Bản, công nghiệp hỗ trợ được định nghĩa là tập hợp các hoạt động công nghiệp cung cấp đầu vào trung gian thông qua các công đoạn kỹ thuật then chốt như đúc, dập, hàn, rèn, gia công cơ khí và khuôn mẫu. Tại Việt Nam, Nghị định số 111/2015/NĐ-CP đã chuẩn hóa khái niệm công nghiệp hỗ trợ là các ngành sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng cung ứng cho sản xuất thành phẩm. Luận văn xây dựng khung phân tích thực thi chính sách đa chiều, đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng gồm: đặc tính của vấn đề chính sách, môi trường kinh tế - xã hội, năng lực cán bộ công quyền, tiềm lực doanh nghiệp và sự phối hợp liên ngành.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2016, các báo cáo chuyên đề của Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội được khảo sát đạt trên 81.000 tỷ đồng trong cả giai đoạn, với GRDP bình quân đầu người năm 2016 đạt 44,9 triệu đồng.
Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra khảo sát thực địa với quy mô mẫu gồm 65 doanh nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp nặng và phụ trợ đang hoạt động tại Khu kinh tế Dung Quất cùng 4 Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm bao quát đầy đủ các nhóm ngành then chốt như cơ khí, lọc hóa dầu, dệt may và da giày. Tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên sâu 12 chuyên gia quản lý nhà nước thuộc Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các nhà nghiên cứu chính sách. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh logic và tổng hợp thể chế được lựa chọn nhằm đối chiếu chính xác giữa mục tiêu văn bản pháp lý với kết quả triển khai trên thực tế.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi có sự chuyển dịch đáng kể nhưng ngành công nghiệp hỗ trợ chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp chung. Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng giảm từ 58,32% năm 2011 xuống 50,36% năm 2016, trong khi khu vực dịch vụ tăng từ 21,60% lên 28,86%. Tỷ lệ cung ứng nội địa của các doanh nghiệp phụ trợ địa phương cho các dự án quy mô lớn tại Dung Quất ước tính chỉ đạt dưới 15%, cho thấy năng lực thầu phụ tại chỗ còn rất yếu.
Thứ hai, kim ngạch xuất nhập khẩu bộc lộ rõ sự lệ thuộc vào thị trường cung ứng bên ngoài. Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt đỉnh 588,8 triệu USD năm 2014 nhưng sụt giảm còn 365,4 triệu USD vào năm 2016. Kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh từ 4.476,1 triệu USD năm 2011 xuống 353,3 triệu USD năm 2016 do hoàn thành xây dựng cơ bản các dự án lớn, tuy nhiên danh mục nhập khẩu chủ yếu vẫn là dầu thô, máy móc thiết bị, phôi thép và nguyên phụ liệu dệt may.
Thứ ba, nguồn lực và bộ máy tổ chức thực hiện chính sách còn hạn chế nghiêm trọng. Trong giai đoạn khảo sát, Sở Công Thương chỉ bố trí 02 công chức chuyên trách thực hiện công tác tham mưu cho toàn bộ chương trình phát triển công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ của tỉnh. Tỷ lệ lao động công nghiệp chiếm trên 18,0% trong tổng số 767,4 nghìn lao động toàn tỉnh, nhưng thiếu vắng đội ngũ công nhân kỹ thuật cao và kỹ sư khuôn mẫu lành nghề.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên phản ánh khoảng cách lớn giữa chính sách ưu đãi trên văn bản và năng lực tiếp cận của doanh nghiệp. Các chính sách về miễn giảm thuế, hỗ trợ mặt bằng và xúc tiến thị trường theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP chưa được địa phương hóa thành các quy trình hành chính thuận tiện. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp nhưng gặp rào cản lớn về vốn và công nghệ, không đủ tiêu chuẩn tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện sự biến động của cơ cấu vốn đầu tư giai đoạn 2011 - 2016, trong đó ngành dịch vụ chiếm 49,97%, công nghiệp chiếm 36,51% và xây dựng chiếm 9,33%. Đồng thời, bảng ma trận đánh giá năng lực thực thi thể chế sẽ làm rõ điểm nghẽn tại khâu điều phối liên ngành. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu trước đây tại vùng duyên hải miền Trung, khẳng định rằng chính sách công nghiệp hỗ trợ sẽ bị vô hiệu hóa nếu thiếu bộ máy chuyên trách đủ mạnh và các công cụ tài chính hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp vệ tinh.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch và bố trí quỹ đất sạch chuyên biệt cho công nghiệp hỗ trợ tại Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cần chỉ đạo Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất quy hoạch các phân khu phụ trợ cơ khí, hóa chất và điện tử, phấn đấu nâng tỷ lệ lấp đầy phân khu công nghiệp hỗ trợ đạt trên 60% vào năm 2022 và nâng tỷ lệ nội địa hóa toàn tỉnh lên 30% vào năm 2025.
Thứ hai, thành lập Quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Ngãi. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Sở Tài chính tham mưu trích lập ngân sách từ 15 đến 20 tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn 2019 - 2023 nhằm tài trợ lãi suất vay vốn, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và cấp kinh phí đăng ký tiêu chuẩn chất lượng quốc tế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ công chức quản lý ngành. Sở Nội vụ phối hợp cùng Sở Công Thương đề xuất bổ sung 05 đến 07 biên chế chuyên trách có chuyên môn sâu về kinh tế công nghiệp và quản trị chuỗi cung ứng trước quý IV năm 2020, đồng thời tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ thực thi chính sách định kỳ hàng năm.
Thứ tư, đẩy mạnh liên kết đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật và xúc tiến kết nối cung - cầu. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì liên kết giữa các trường cao đẳng nghề với doanh nghiệp đầu tàu tại Dung Quất để đào tạo theo đơn đặt hàng cho khoảng 3.000 kỹ thuật viên giai đoạn 2020 - 2025. Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến Thương mại định kỳ tổ chức 02 hội chợ kết nối thầu phụ mỗi năm nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa về nhà cung ứng địa phương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp tỉnh: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất sử dụng luận văn làm căn cứ xây dựng đề án, quy hoạch và chương trình hành động phát triển công nghiệp giai đoạn mới.
Nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các hiệp hội ngành nghề: Các chủ doanh nghiệp cơ khí chế tạo, vật liệu, bao bì và may mặc tham khảo để nắm bắt khung khổ chính sách ưu đãi, nhận diện cơ hội đầu tư và định hướng nâng cao năng lực tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.
Nhóm viện nghiên cứu, trường đại học và học viên cao học: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Chính sách công, Quản lý kinh tế, Kinh tế công nghiệp khai thác nguồn tư liệu thực chứng, số liệu thống kê chuẩn xác và phương pháp tiếp cận quy trình thực thi chính sách ở cấp địa phương.
Nhóm tổ chức xúc tiến đầu tư và các đối tác FDI: Các chuyên gia tư vấn đầu tư sử dụng báo cáo để đánh giá thực trạng hệ sinh thái công nghiệp, tiềm năng cung ứng thầu phụ và môi trường kinh doanh tại tỉnh Quảng Ngãi và Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Câu hỏi thường gặp
Phát triển công nghiệp hỗ trợ có vai trò cấp bách như thế nào đối với tỉnh Quảng Ngãi?
Quảng Ngãi tập trung nhiều dự án công nghiệp nặng quy mô lớn như Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, tổ hợp sản xuất thiết bị công nghiệp nặng và luyện thép, cùng 04 khu công nghiệp tập trung. Thiếu ngành phụ trợ khiến tỷ lệ nội địa hóa dưới 15%, doanh nghiệp phụ thuộc nhập khẩu linh kiện, làm suy giảm sức hút đầu tư FDI và giảm hiệu quả lan tỏa của nền kinh tế địa phương.
Tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2016 diễn biến ra sao?
Giai đoạn 2011 - 2016, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh tăng bình quân 7,3%/năm, đạt mức quy đổi hơn 44.000 tỷ đồng vào năm 2016 với GRDP bình quân đầu người đạt 44,9 triệu đồng. Thu ngân sách nhà nước toàn giai đoạn đạt khoảng 160.000 tỷ đồng, tạo nền tảng tài chính vững chắc nhưng cơ cấu kinh tế đang bộc lộ dấu hiệu giảm dần tỷ trọng công nghiệp.
Đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong bộ máy thực thi chính sách công nghiệp hỗ trợ tại địa phương?
Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở việc thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực quản lý chuyên trách khi Sở Công Thương chỉ bố trí 02 công chức theo dõi toàn bộ lĩnh vực phát triển công nghiệp và phụ trợ. Điều này dẫn đến sự chậm trễ trong phổ biến chính sách, thiếu công cụ giám sát và gây khó khăn cho doanh nghiệp khi tiếp cận các ưu đãi theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP.
Mục tiêu quốc gia về phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2025 được quy định như thế nào?
Theo Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2016 - 2025, mục tiêu đặt ra là sản phẩm phụ trợ đáp ứng khoảng 45% nhu cầu sản xuất nội địa vào năm 2020 và nâng lên 65% vào năm 2025, tập trung vào linh kiện phụ tùng, dệt may - da giày và công nghệ cao.
Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào về tài chính cho doanh nghiệp phụ trợ?
Tác giả đề xuất tỉnh Quảng Ngãi thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ với kinh phí 15 đến 20 tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2019 - 2023. Nguồn quỹ này tập trung tài trợ lãi suất vay thương mại, hỗ trợ chi phí chuyển giao công nghệ mới và tài trợ kinh phí kiểm định chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung phân tích về tổ chức thực thi chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ từ góc độ khoa học chính sách công.
- Phân tích sâu sắc bức tranh kinh tế - xã hội Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2016 với tốc độ tăng trưởng 7,3%/năm, quy mô vốn đầu tư trên 81.000 tỷ đồng và thực trạng phát triển phân tán của các cụm công nghiệp.
- Chỉ rõ các nút thắt thể chế khiến tỷ lệ nội địa hóa dưới 15% và sự bất cập trong bộ máy tham mưu khi chỉ có 02 cán bộ chuyên trách tại cơ quan chuyên môn.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch mặt bằng, quỹ tài chính 15 - 20 tỷ đồng/năm, kiện toàn bộ máy quản lý và liên kết đào tạo 3.000 kỹ thuật viên đến năm 2025.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc giúp tỉnh Quảng Ngãi ban hành các nghị quyết chuyên đề về phát triển công nghiệp hỗ trợ trong giai đoạn tiếp theo.
Đóng góp lớn nhất của công trình là xác lập mối liên kết hữu cơ giữa lý thuyết chu trình chính sách công và bài toán công nghiệp hóa tại địa phương trọng điểm miền Trung. Trong giai đoạn 2019 - 2025, các cấp chính quyền cần nhanh chóng thể chế hóa các giải pháp nêu trên thành kế hoạch hành động cụ thể, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để thu hút nguồn lực xã hội. Các nhà quản lý, hiệp hội doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình tại Thư viện Học viện Khoa học Xã hội để phục vụ công tác điều hành và phát triển học thuật.