Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài "Phát triển cộng đồng từ thực tiễn xây dựng nông thôn mới (nghiên cứu tại Hòa Bình, Quảng Trị, Cà Mau)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Khắc Toàn thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Văn Tùng và PGS.TS Nguyễn Thanh Bình (bảo vệ năm 2023).

Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ thực tế Việt Nam có hơn 16 triệu hộ gia đình với trên 63 triệu dân cư trú tại địa bàn nông thôn (chiếm gần 68% tổng dân số cả nước), lực lượng lao động nông thôn chiếm 44% tổng lao động cả nước, và khu vực kinh tế nông nghiệp đóng góp 15,4% tổng sản phẩm nền kinh tế (Niên giám thống kê năm 2020). Sau 10 năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (2011–2020), cả nước đã huy động tổng nguồn lực trên 2,97 triệu tỷ đồng, trong đó nguồn lực xã hội hóa chiếm 72,3% và người dân đã tự nguyện hiến trên 45 triệu mét vuông đất. Đến ngày 31 tháng 12 năm 2021, có 14 tỉnh, 213 huyện và 5.615 trên 8.233 xã (đạt tỷ lệ 68%) hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, thực tiễn nảy sinh nhiều hạn chế: phát triển cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ với phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập; liên kết sản xuất thiếu bền vững; nguồn lực nhà nước đầu tư dàn trải; ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên tại một số địa phương.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng dù có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới hoặc phát triển cộng đồng đơn lẻ, song các công trình tiếp cận chuyên sâu và hệ thống từ góc độ khoa học công tác xã hội về phát triển cộng đồng đặt trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới còn rất thưa vắng. Một số báo cáo trước đó của Liên minh Minh bạch Ngân sách (BTAP), Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI), Trung tâm Hành động vì sự Phát triển Cộng đồng (ACDC) chỉ dừng ở quy mô mẫu nhỏ, chủ yếu định tính tại hai tỉnh Hòa Bình và Quảng Trị.

Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa lý luận về phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới; đánh giá và phân tích thực trạng, tính chất phát triển cộng đồng từ thực tiễn xây dựng nông thôn mới thông qua việc vận dụng các nguyên lý, cơ chế, tiến trình tại Hòa Bình, Quảng Trị và Cà Mau; từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nhiệm vụ:

  • Nhiệm vụ 1: Xây dựng cơ sở lý luận, phương pháp và cách tiếp cận nghiên cứu phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới.
  • Nhiệm vụ 2: Đánh giá và phân tích thực trạng vận dụng nguyên lý, cơ chế và tiến trình phát triển cộng đồng từ thực tiễn xây dựng nông thôn mới.
  • Nhiệm vụ 3: Đánh giá và phân tích bối cảnh, một số vấn đề đặt ra trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2030, để trên cơ sở đó xây dựng một số giải pháp thúc đẩy phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm:

  • Câu hỏi 1: Kết quả xây dựng nông thôn mới ở các địa bàn nghiên cứu như thế nào trong giai đoạn 2016–2020?
  • Câu hỏi 2: Thực trạng vận dụng nguyên lý, cơ chế và tiến trình phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại các địa bàn nghiên cứu đã được thực hiện như thế nào? Vai trò và ý nghĩa của việc vận dụng đó ra sao đối với xây dựng nông thôn mới?
  • Câu hỏi 3: Những vấn đề gì đặt ra đối với phát triển cộng đồng trong giai đoạn 2021–2030 và cần những giải pháp gì để thúc đẩy phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn tới?

Các giả thuyết nghiên cứu gồm:

  • Giả thuyết 1: Việc thực hiện và kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới ở ba xã Cao Sơn (Hòa Bình), Vĩnh Chấp (Quảng Trị) và Tân Thành (Cà Mau) tốt hơn so với ba xã Mai Hịch, Mò Ó và Nguyễn Phích của ba tỉnh tương ứng.
  • Giả thuyết 2: Thực trạng vận dụng nguyên lý, cơ chế, tiến trình phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới ở 03 xã Cao Sơn, Vĩnh Chấp và Tân Thành tốt hơn và đầy đủ hơn so với 03 xã Mai Hịch, Mò Ó và Nguyễn Phích. Ở đâu nông dân và cộng đồng địa phương thực hiện đúng vai trò chủ thể của mình và tích cực tham gia, ở đâu Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới vận dụng tốt các nguyên lý, cơ chế và tiến trình phát triển cộng đồng thì ở đó có sự thành công trong xây dựng nông thôn mới. Ngược lại, ở đâu vai trò chủ thể của nông dân và cộng đồng địa phương không được thực hiện hoặc được thực hiện không đầy đủ thì ở đó kết quả xây dựng nông thôn mới còn nhiều hạn chế, thậm chí thất bại.
  • Giả thuyết 3: Bối cảnh xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2030 đặt ra nhiều vấn đề quan trọng, nếu vận dụng thực hiện các giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; phát huy vai trò chủ thể và thúc đẩy sự tham gia của người dân; tăng cường cơ chế trao quyền cho người dân và có các giải pháp huy động nguồn lực hiệu quả, xây dựng các mô hình tổ chức cộng đồng phù hợp thì vai trò của phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới ngày càng cao.

Đối tượng nghiên cứu là phát triển cộng đồng từ thực tiễn xây dựng nông thôn mới, tập trung vào thực trạng, vai trò và ý nghĩa của việc vận dụng nguyên lý, cơ chế và tiến trình phát triển cộng đồng trong giai đoạn 2016–2020. Khách thể nghiên cứu bao gồm cư dân nông thôn (chủ yếu là nông dân) và cán bộ địa phương (cấp ủy, chính quyền, cán bộ chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, cán bộ hội đoàn thể, thành viên Ban chỉ đạo, Ban quản lý công trình). Phạm vi không gian gồm 3 tỉnh thuộc 3 miền: Hòa Bình (đặc trưng miền núi phía Bắc), Quảng Trị (đặc trưng dải đất miền Trung) và Cà Mau (đặc trưng đồng bằng sông Cửu Long); tại mỗi tỉnh chọn 2 huyện và 2 xã (1 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới và 1 xã chưa đạt chuẩn). Phạm vi thời gian nghiên cứu trọng tâm từ năm 2016 đến năm 2020 (giai đoạn 2 của Chương trình mục tiêu quốc gia), có cập nhật số liệu đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm chủ đề chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu lý luận về phát triển cộng đồng. Trên thế giới, nghiên cứu của Mini Pradeep và Sathyamurthi Karibeeran (2017) đã khái quát sự tiến triển thuật ngữ công tác xã hội cộng đồng từ thập niên 1970–1980 tại Anh gắn liền với việc giảm tập trung quan liêu (Hadley và Hatch, 1981; Payne, 2005; Hadley và cộng sự, 1987). Tác giả điểm lại hàng loạt quan niệm của Thomas (1983), Glison và cộng sự (2012), Pawar (2014), Forde và Lynch (2014), Teater và Baldwin (2012), Rothman và Roberts (2013), Chow (2015), Roivainen (2004), McDevitt (1997), Hardcastle và cộng sự (2004), Mizrahi và Davis (2008), Peter M. Barclay (1982), Glisson (1994), Bennet (1986). Tại Việt Nam, các công trình đặt nền móng lý thuyết được tác giả phân tích gồm Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang (2000, 2012), Nguyễn Hồi Loan và Nguyễn Thị Kim Hoa (2015), Nguyễn Thanh Bình (2017), Bùi Thị Xuân Mai (2012), Nguyễn Thị Như Trang và cộng sự (2017), Nguyễn Thị Oanh (2000), Trần Thị Kim Xuyến (2010), Nguyễn Thị Thái Lan (2014), Lê Hải Thanh (2013). Các tác giả này đã định hình các khái niệm, nguyên tắc hành động, phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA), và 2 hướng tiếp cận: tiếp cận từ trên xuống (top-down) và tiếp cận từ dưới lên (bottom-up).

Nhóm 2: Các nghiên cứu về thực hành phát triển cộng đồng. Ở bình diện quốc tế, luận án điểm lại các mô hình: Hợp tác xã nông trang tại Israel (theo Báo cáo Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, 2019); thực hành hỗ trợ nông nghiệp và bảo tồn văn hóa tại Australia; phong trào Saemaul Undong (Làng mới) từ năm 1970 tại Hàn Quốc với 3 nguyên tắc cần cù, tự lực, hợp tác (Phạm Xuân Liêm, 2011); vai trò cán bộ cơ sở và người có uy tín tại Lào (Khan Bay Ma La Sing, 2013). Tại Việt Nam, các mô hình thực hành cộng đồng gắn với từng lĩnh vực cụ thể gồm: chi hội nghề cá tại Thừa Thiên Huế (Nguyễn Quang Vinh Bình, 2014); quản lý phát triển xã hội vùng ngư dân miền Trung (Lê Văn Định, 2015); quản lý rừng cộng đồng (Võ Đình Tuyên, 2010); quản lý công trình thủy lợi nhỏ tại Quảng Bình (Hoàng Hùng); quản lý cấp nước tập trung nông thôn (Nguyễn Thị Lan Hương, 2011); vai trò phụ nữ nông thôn tại Hà Tây (Trần Thị Xuân Lan, 2013); bảo tồn làng nghề truyền thống (Trần Minh Yến, 2014; Bạch Thị Lan Anh, 2015); giải quyết việc làm nông nghiệp tại Hà Nội (Lê Thị Vân Anh, 2014); cùng các tài liệu của Hoàng Mạnh Quân (2013), Trần Thanh Hà (2014), Lê Thị Mỹ Hiền (2014), Lê Văn An và Lê Tùng Đức (2015), Nguyễn Minh Xuân (2015).

Nhóm 3: Các nghiên cứu về thể chế, chính sách xây dựng nông thôn mới. Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp chủ trương từ Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 18/6/2016; các nghiên cứu của Trịnh Văn Tùng (2017), Lê Kim Việt (2014), Hoàng Thế Liên (2013), Hoàng Vũ Quang, Nguyễn Thế Trường (2015). Về kinh nghiệm quốc tế, luận án phân tích chính sách 4 giai đoạn và phong trào "mỗi làng một sản phẩm" tại Nhật Bản (Nguyễn Thành Lợi, 2013); chính sách "hai mở, một điều chỉnh" và tăng quyền cho nông dân tại Trung Quốc (Lê Xuân Cử, 2015); chính sách trợ giá nông sản và công nghiệp nông thôn tại Thái Lan (Nguyễn Hoàng Sa, 2014); chính sách đa dạng hóa kinh tế nông thôn của Đức.

Nhóm 4: Các nghiên cứu về chủ thể người dân tham gia phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới. Các công trình tiêu biểu gồm mô hình nhà sinh hoạt cộng đồng thôn Suối Rè (xã Cư Yên, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình); Đề án bảo tồn 35 làng văn hóa du lịch cộng đồng tại tỉnh Hà Giang; và các dự án do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP, 2021) tài trợ tại Hội An (Quảng Nam), Hòn Cau (Bình Thuận), Bà Nà - Núi Chúa (Đà Nẵng), Hòn Yến (Phú Yên), Phú Thuận (Thừa Thiên Huế).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Trong hơn 20.400 luận án tiến sĩ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và các đề tài khoa học các cấp, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận phát triển cộng đồng ở các lát cắt cục bộ (nghề cá, quản lý rừng, cấp nước, bình đẳng giới, làng nghề) hoặc đánh giá việc thực hiện 19 tiêu chí nông thôn mới thuần túy mang tính kỹ thuật, hành chính. Chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện và hệ thống mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển cộng đồng và xây dựng nông thôn mới dưới lăng kính công tác xã hội thông qua sự kết hợp của cả ba yếu tố: hệ thống nguyên lý, cơ chế tham gia và tiến trình can thiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng hệ thống khái niệm công cụ và vận dụng các lý thuyết chuyên ngành:

  • Khái niệm nông thôn: phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, nơi người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông.
  • Khái niệm nông thôn mới: nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự giữ vững.
  • Khái niệm cộng đồng: tập hợp nông dân và người dân nông thôn sinh sống trên không gian hành chính cấp xã, cùng chia sẻ vấn đề, mục đích, chuẩn mực, có 5 chức năng cơ bản gồm kinh tế, xã hội hóa, kiểm soát xã hội, hỗ trợ lẫn nhau và tham gia hoạt động xã hội (Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000; Akoun, 1999).
  • Khái niệm phát triển cộng đồng từ thực tiễn xây dựng nông thôn mới: hoạt động có tổ chức, theo đó nông dân và người dân nông thôn phát huy vai trò chủ thể và nội lực nhằm giải quyết vấn đề của mình với sự hỗ trợ của Nhà nước bằng cách tuân thủ các nguyên lý, cơ chế và tiến trình phát triển cộng đồng do ban chỉ đạo vận dụng.
  • Luận án vận dụng 2 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết hệ thống (nhìn nhận cộng đồng nông thôn như một hệ thống mở tương tác đa chiều giữa cấp ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và người dân) và Lý thuyết trao quyền (nhấn mạnh việc chuyển giao quyền năng, tri thức và tạo cơ hội để người dân thực sự làm chủ quá trình ra quyết định và kiểm tra, giám sát).
  • Khung phân tích của luận án xác lập mối liên hệ giữa biến số độc lập (mức độ vận dụng 7 nguyên lý, cơ chế dân chủ và 6 bước tiến trình phát triển cộng đồng) với biến số phụ thuộc (mức độ thành công của các mục tiêu xây dựng nông thôn mới và sự thụ hưởng của người dân).

Về phương pháp tiếp cận và hệ thống nguyên lý, cơ chế:

  • 7 nguyên lý phát triển cộng đồng được thao tác hóa: (1) Phát triển tổng thể; (2) Phát triển bền vững; (3) Phát triển công bằng; (4) Phát huy sự tham gia tối đa của cộng đồng; (5) Tăng cường sự liên kết và sử dụng hiệu quả kiến thức ngoài cộng đồng; (6) Học tập và làm việc cùng cộng đồng; (7) Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức, cá nhân trong cộng đồng.
  • Cơ chế phát triển cộng đồng: Dựa trên phương châm "Dân biết, Dân bàn, Dân tham gia quyết định, Dân làm, Dân kiểm tra, Dân giám sát, Dân thụ hưởng" (bổ sung rõ nét cấu phần "Dân tham gia quyết định").
  • 6 bước tiến trình phát triển cộng đồng: (1) Tiếp cận cộng đồng; (2) Đánh giá cộng đồng; (3) Khái quát các vấn đề của cộng đồng; (4) Lập kế hoạch can thiệp; (5) Thực hiện kế hoạch can thiệp; (6) Kết thúc, lượng giá và chuyển giao.

Về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Phương pháp luận: Kết hợp phương pháp nghiên cứu đánh giá, phương pháp biện chứng và phương pháp so sánh (giữa nhóm xã đạt chuẩn nông thôn mới và nhóm xã chưa đạt chuẩn).
  • Phân tích tài liệu thứ cấp: Các văn bản chính sách (Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII, Quyết định 1600/QĐ-TTg, Quyết định 1980/QĐ-TTg, Quyết định 32/2010/QĐ-TTg; các Thông tư 08/2010/TT-BNV, 34/2010/TT-BLĐTBXH, 43/2015/TT-BYT, 33/2018/TT-BGDĐT, 25/2017/TT-BLĐTBXH) và báo cáo tổng kết 10 năm xây dựng nông thôn mới.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 48 cuộc phỏng vấn sâu, xử lý bằng phương pháp gỡ băng và mã hóa màu theo chủ đề. Mẫu phân bổ gồm 18 cán bộ và 30 người dân:
Cấp hành chính Địa bàn Số lượng cán bộ Số lượng người dân
Cấp tỉnh Hòa Bình, Quảng Trị, Cà Mau (mỗi tỉnh 2 cán bộ) 6 —
Cấp huyện Lương Sơn, Mai Châu, Vĩnh Linh, Đakrông, TP Cà Mau, U Minh (mỗi huyện 1 cán bộ) 6 —
Cấp xã Cao Sơn, Mai Hịch, Vĩnh Chấp, Mò Ó, Tân Thành, Nguyễn Phích (mỗi xã 1 cán bộ) 6 30 (mỗi xã 5 người dân)
Tổng cộng 18 30
  • Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: Tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm tại 6 xã nghiên cứu, mỗi cuộc gồm 8 người dân.
  • Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Chọn mẫu kết hợp: phi xác suất có chủ đích đối với 3 tỉnh và 6 xã đại diện, sau đó lập danh sách dân cư do chính quyền xã cung cấp và chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản bằng hình thức bốc thăm số thứ tự. Cỡ mẫu kỳ vọng ban đầu là 720 người (120 người/xã), được nâng lên 780 người (130 người/xã), thực tế thu về 741 phiếu hợp lệ. Dữ liệu định lượng được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 25.0.

Cơ cấu mẫu khảo sát thực tế (N = 741) được trình bày trong bảng sau:

Biến số nhân khẩu học - xã hội Phân loại Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Vị trí địa lý / Địa bàn cư trú Đồng bằng 421 56,8
Miền núi 320 43,2
Độ tuổi 25 – 39 tuổi 181 24,4
40 – 59 tuổi 378 51,0
Từ 60 tuổi trở lên 182 24,6
Giới tính Nam 426 57,5
Nữ 315 42,5
Trình độ học vấn Tiểu học trở xuống 226 30,5
THCS – THPT 460 62,1
Từ Trung cấp trở lên 55 7,4
Nghề nghiệp chính Nông dân, ngư dân 661 89,2
Cư dân nông thôn làm nghề khác 80 10,8
Dân tộc Kinh 422 57,0
Dân tộc thiểu số 319 43,0
Tôn giáo Có theo tôn giáo 46 6,2
Không theo tôn giáo 695 93,8
Phân bổ theo xã khảo sát Xã Cao Sơn (Huyện Lương Sơn, Hòa Bình) 123 16,6
Xã Mai Hịch (Huyện Mai Châu, Hòa Bình) 119 16,1
Xã Vĩnh Chấp (Huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị) 120 16,2
Xã Mò Ó (Huyện Đakrông, Quảng Trị) 120 16,2
Xã Tân Thành (TP Cà Mau, Cà Mau) 130 17,5
Xã Nguyễn Phích (Huyện U Minh, Cà Mau) 129 17,4

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới

Chương 1 tập trung phân tích hệ thống tài liệu nghiên cứu đã công bố theo 4 hướng tiếp cận chính: lý luận phát triển cộng đồng, thực hành phát triển cộng đồng, thể chế chính sách xây dựng nông thôn mới và chủ thể người dân tham gia. Tác giả chứng minh rằng việc áp dụng công tác xã hội chuyên nghiệp trong phát triển cộng đồng là phương thức tiếp cận can thiệp vĩ mô, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và người dân. Luận án chỉ ra các mô hình quốc tế (Israel, Hàn Quốc, Australia, Lào, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Đức) đều cho thấy bài học kinh nghiệm về việc phát huy tính tự lực, tự quản của cộng đồng cơ sở thay vì áp đặt hành chính. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây về xây dựng nông thôn mới thường thiên về đánh giá tiến độ hoàn thành các tiêu chí kỹ thuật hoặc phân tích chính sách kinh tế vĩ mô. Chương này xác lập khoảng trống khoa học: thiếu vắng một công trình nghiên cứu thực nghiệm quy mô liên vùng, đánh giá toàn diện sự tương thích giữa các nguyên lý, cơ chế dân chủ và tiến trình phát triển cộng đồng với thực tiễn xây dựng nông thôn mới từ góc độ công tác xã hội.

Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 làm rõ khung lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Tác giả thao tác hóa các khái niệm công cụ, phân tích bản chất của cộng đồng nông thôn và mối quan hệ biện chứng giữa phát triển cộng đồng với xây dựng nông thôn mới. Luận án khẳng định sự tương đồng sâu sắc giữa các quan điểm chỉ đạo của Đảng (Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII) với các nguyên lý phát triển cộng đồng, đặc biệt là quan điểm xem nông dân là chủ thể, phát huy tối đa nội lực kết hợp nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước. Tác giả phân tích cấu trúc ban chỉ đạo nông thôn mới cấp xã (gồm bí thư đảng ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân, đại diện Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội) và xác định đội ngũ cán bộ này đang đóng vai trò như những nhân viên phát triển cộng đồng bán chuyên nghiệp. Khung phân tích được thiết kế dựa trên sự tích hợp của Lý thuyết hệ thống và Lý thuyết trao quyền, xác định các thang đo cụ thể cho 7 nguyên lý, cơ chế tham gia 6 bước và tiến trình can thiệp 6 giai đoạn nhằm kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu thông qua mẫu khảo sát 741 người cùng 48 cuộc phỏng vấn sâu và 6 cuộc thảo luận nhóm.

Chương 3: Thực trạng vận dụng nguyên lý, cơ chế và tiến trình phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại Hòa Bình, Quảng Trị và Cà Mau

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích dữ liệu định lượng (xử lý trên phần mềm SPSS 25.0) kết hợp với dữ liệu định tính thu được từ thực địa tại 3 tỉnh Hòa Bình, Quảng Trị và Cà Mau giai đoạn 2016–2020:

  • Về vận dụng 7 nguyên lý phát triển cộng đồng: Dữ liệu phân tích điểm trung bình (ĐTB) và tương quan vị trí địa lý, nhân khẩu học cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các địa bàn. Nhóm 3 xã đạt chuẩn nông thôn mới (Cao Sơn, Vĩnh Chấp, Tân Thành) có điểm đánh giá mức độ vận dụng nguyên lý phát triển tổng thể, phát triển bền vững, phát triển công bằng, phát huy sự tham gia tối đa của cộng đồng, liên kết tri thức bên ngoài, học tập cùng cộng đồng và phối hợp tổ chức cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm 3 xã chưa đạt chuẩn (Mai Hịch, Mò Ó, Nguyễn Phích). Cư dân vùng đồng bằng có xu hướng tiếp cận và đánh giá mức độ vận dụng các nguyên lý này thuận lợi hơn khu vực miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Về vận dụng cơ chế phát triển cộng đồng: Kết quả khảo sát mức độ thực hiện chu trình dân chủ cho thấy:
    • "Dân biết": Kênh truyền thông cơ sở (loa truyền thanh, sinh hoạt thôn/xóm) có độ bao phủ cao nhất, song việc phổ biến thông tin tại các xã vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (xã Mò Ó, Mai Hịch) còn nhiều rào cản.
    • "Dân bàn" và "Dân tham gia quyết định": Tỷ lệ người dân được tham gia bàn bạc các công trình dân sinh quy mô nhỏ (đường ngõ xóm, nội đồng) đạt mức khá, nhưng mức độ tham gia quyết định đối với các dự án lớn, quy hoạch tổng thể cấp xã vẫn bị hạn chế, phần lớn do cấp ủy và chính quyền quyết định áp đặt từ trên xuống.
    • "Dân làm": Sự tham gia của người dân thể hiện rõ rệt nhất qua việc đóng góp ngày công lao động, đóng góp tiền mặt và hiến đất làm hạ tầng.
    • "Dân kiểm tra, giám sát": Hoạt động của Ban giám sát đầu tư cộng đồng và Mặt trận Tổ quốc còn mang tính hình thức ở nhóm xã chưa đạt chuẩn; người dân thiếu công cụ kỹ thuật và thông tin chi tiết về dự toán ngân sách để thực hiện giám sát độc lập.
    • "Dân thụ hưởng": Mức độ thụ hưởng về kết cấu hạ tầng giao thông, điện, trường học tại các xã đạt chuẩn tăng lên rõ rệt so với mốc năm 2016; tuy nhiên, mức độ cải thiện tiêu chí thu nhập và môi trường ở nhóm xã chưa đạt chuẩn vẫn ở mức thấp.
  • Về vận dụng tiến trình phát triển cộng đồng: Việc thực hiện 6 bước can thiệp chưa đồng đều. Các địa phương làm tương đối tốt khâu tiếp cận và huy động thực hiện kế hoạch, nhưng khâu đánh giá nhu cầu thực chất của cộng đồng từ dưới lên và khâu kết thúc, lượng giá, chuyển giao năng lực tự quản cho cộng đồng còn yếu.
  • Kết quả đối sánh thực nghiệm khẳng định Giả thuyết 1 và Giả thuyết 2: Địa phương nào thực hiện tốt việc trao quyền, vận dụng bài bản nguyên lý và tiến trình phát triển cộng đồng thì xây dựng nông thôn mới đạt kết quả thực chất và bền vững; ngược lại, nơi nào áp đặt mệnh lệnh hành chính, coi nhẹ vai trò chủ thể của người dân thì việc hoàn thành các tiêu chí gặp nhiều ách tắc.

Chương 4: Bối cảnh, một số vấn đề đặt ra và giải pháp thúc đẩy phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới

Chương 4 phân tích bối cảnh xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2030 trước tác động của chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn. Tác giả chỉ ra các vấn đề đặt ra: nguy cơ tái nghèo, khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bằng và miền núi, năng lực hạn chế của cán bộ đoàn thể trong kỹ năng làm việc với cộng đồng, và sự suy giảm tính cố kết xã hội truyền thống. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới:

  • Nhóm 1: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phát triển cộng đồng và công tác xã hội cho đội ngũ cán bộ cơ sở, đặc biệt là cán bộ Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân và các hội đoàn thể, nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp khi làm việc với người dân.
  • Nhóm 2: Đổi mới phương thức thực thi quy chế dân chủ ở cơ sở, chuyển hóa thực chất từ phương châm quản lý hành chính sang cơ chế trao quyền; bảo đảm người dân thực sự được bàn bạc và tham gia quyết định trực tiếp các dự án liên quan đến sinh kế và hạ tầng cộng đồng.
  • Nhóm 3: Chuyển dịch căn bản từ cách tiếp cận chỉ đạo từ trên xuống (top-down) sang cách tiếp cận thúc đẩy từ dưới lên (bottom-up), tôn trọng và phát huy các sáng kiến tự quản của cư dân nông thôn.
  • Nhóm 4: Đa dạng hóa các mô hình tổ chức cộng đồng tự lực, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, tổ hợp tác, hợp tác xã gắn với phát huy vốn xã hội và tri thức bản địa tại từng vùng sinh thái văn hóa.
  • Nhóm 5: Hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động và quản lý nguồn lực nội sinh trong cộng đồng, gắn kết minh bạch giữa vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ với nguồn lực xã hội hóa do nhân dân đóng góp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 6 đóng góp mới về mặt khoa học:

  • Thứ nhất, hệ thống hóa hệ thống khái niệm công cụ và phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận về nông thôn mới, xây dựng nông thôn mới, phát triển cộng đồng và cách tiếp cận phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới.
  • Thứ hai, góp phần bổ sung lý luận về phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới; đề xuất các luận điểm về phát huy vai trò chủ thể của nông dân và sự tham gia của cộng đồng địa phương, phục vụ công tác tham mưu chính sách xây dựng nông thôn mới.
  • Thứ ba, luận án khẳng định sự phù hợp giữa hệ thống nguyên lý, cơ chế, tiến trình phát triển cộng đồng với các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là việc làm sâu sắc cơ chế "Dân biết, dân bàn, dân tham gia quyết định, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng".
  • Thứ tư, lần đầu tiên trong nghiên cứu công tác xã hội tại Việt Nam, luận án tích hợp đồng bộ bộ ba nội dung cốt lõi: "nguyên lý", "cơ chế" và "tiến trình" phát triển cộng đồng để đánh giá và lý giải kết quả xây dựng nông thôn mới.
  • Thứ năm, đề xuất giải pháp cụ thể về việc tăng cường đào tạo kiến thức, kỹ năng phát triển cộng đồng chuyên nghiệp cho cán bộ các hội đoàn thể, đặc biệt là Hội Nông dân - lực lượng thường xuyên làm việc với cư dân nông thôn nhưng chưa được đào tạo bài bản về công tác xã hội.
  • Thứ sáu, kết quả nghiên cứu thực chứng tại 6 xã của 3 tỉnh khẳng định quy luật: Ở đâu nông dân và cộng đồng địa phương thực hiện đúng vai trò chủ thể của mình và tích cực tham gia, ở đâu ban chỉ đạo vận dụng tốt các nguyên lý, cơ chế và tiến trình phát triển cộng đồng thì ở đó có sự thành công trong xây dựng nông thôn mới. Ngược lại, ở đâu vai trò chủ thể của nông dân và cộng đồng địa phương bị xem nhẹ hoặc thực hiện hình thức thì ở đó kết quả xây dựng nông thôn mới còn nhiều hạn chế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do nguồn lực và phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ khảo sát thực nghiệm tại 3 tỉnh đại diện (Hòa Bình, Quảng Trị, Cà Mau) với 6 xã điển hình đại diện cho 2 trạng thái đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn nông thôn mới, với quy mô mẫu khảo sát 741 người; do đó chưa thể bao quát được toàn bộ tính đa dạng văn hóa - kinh tế của các vùng sinh thái nông nghiệp khác trên phạm vi cả nước. Đồng thời, khung thời gian khảo sát tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2016–2020 của Chương trình mục tiêu quốc gia.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả gợi mở việc mở rộng địa bàn khảo sát đến các vùng đặc thù khác như Tây Nguyên hay vùng Duyên hải Nam Trung Bộ; nghiên cứu đánh giá tác động của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu giai đoạn 2021–2030; đồng thời đi sâu nghiên cứu quy chuẩn hóa vị trí việc làm và chương trình đào tạo công tác xã hội cho cán bộ cấp cơ sở xã, thôn, bản.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học nông thôn, Xã hội học cộng đồng, Quản lý phát triển nông thôn, Chính sách công: Luận án cung cấp khung phân tích lý thuyết, hệ thống bảng hỏi khảo sát và bộ công cụ định lượng đo lường thực nghiệm về sự tham gia của cộng đồng.
  • Cán bộ quản lý nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương và thành viên Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp: Công trình cung cấp luận cứ thực tiễn để chuyển đổi tư duy quản lý từ mệnh lệnh hành chính sang phương thức tiếp cận cộng đồng có sự tham gia, khắc phục tính hình thức trong thực hiện dân chủ cơ sở.
  • Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: Kết quả nghiên cứu là căn cứ thiết thực để xây dựng các chương trình bồi dưỡng kỹ năng phát triển cộng đồng, nâng cao năng lực vận động quần chúng cho mạng lưới cán bộ hội ở cấp xã và thôn, bản.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án lựa chọn địa bàn nghiên cứu tại các tỉnh nào và căn cứ vào tiêu chí nào? Luận án khảo sát thực địa tại 3 tỉnh gồm Hòa Bình (miền núi phía Bắc), Quảng Trị (miền Trung) và Cà Mau (đồng bằng sông Cửu Long). Tại mỗi tỉnh, tác giả lựa chọn 2 huyện và 2 xã có kết quả đối lập nhau trong giai đoạn 2016–2020: một xã đã đạt chuẩn nông thôn mới (Cao Sơn, Vĩnh Chấp, Tân Thành) và một xã chưa đạt chuẩn (Mai Hịch, Mò Ó, Nguyễn Phích) nhằm thực hiện phép nghiên cứu so sánh.

  2. Quy mô mẫu khảo sát định lượng và định tính của luận án được bố trí ra sao? Về định lượng, nghiên cứu thu được 741 phiếu khảo sát hợp lệ từ người dân (vượt mẫu kỳ vọng ban đầu là 720 người) bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên đơn giản từ danh sách dân cư, xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS 25.0. Về định tính, nghiên cứu thực hiện 48 cuộc phỏng vấn sâu (gồm 18 cán bộ từ cấp tỉnh, huyện đến xã và 30 người dân) cùng 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung (mỗi cuộc 8 người dân tại 6 xã).

  3. Luận án tích hợp những nội dung cốt lõi nào của lý thuyết phát triển cộng đồng để đánh giá xây dựng nông thôn mới? Tác giả tích hợp đồng bộ 3 trụ cột: (1) Hệ thống 7 nguyên lý phát triển cộng đồng (phát triển tổng thể, bền vững, công bằng, tham gia tối đa, liên kết kiến thức bên ngoài, học tập cùng cộng đồng, phối hợp tổ chức); (2) Cơ chế dân chủ bổ sung yếu tố "Dân tham gia quyết định" trong chuỗi "Dân biết, dân bàn, dân tham gia quyết định, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"; và (3) Tiến trình phát triển cộng đồng gồm 6 bước can thiệp từ tiếp cận, đánh giá, lập kế hoạch đến lượng giá, chuyển giao.

  4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án đã kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu như thế nào? Kết quả khảo sát khẳng định ở nhóm xã đạt chuẩn (Cao Sơn, Vĩnh Chấp, Tân Thành), điểm trung bình về mức độ vận dụng 7 nguyên lý, cơ chế tham gia và các bước tiến trình phát triển cộng đồng đều cao hơn rõ rệt so với nhóm xã chưa đạt chuẩn (Mai Hịch, Mò Ó, Nguyễn Phích). Điều này chứng minh rằng việc bảo đảm vai trò chủ thể của người dân và vận dụng tốt phương pháp phát triển cộng đồng là yếu tố then chốt dẫn đến kết quả xây dựng nông thôn mới thành công.

  5. Luận án nhìn nhận vai trò của cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã như thế nào dưới góc nhìn công tác xã hội? Do chưa thể bố trí chức danh nhân viên công tác xã hội chuyên trách tại cấp xã theo mục tiêu của Quyết định 32/2010/QĐ-TTg, luận án xác định đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh và thành viên ban chỉ đạo cấp xã chính là những nhân viên phát triển cộng đồng bán chuyên nghiệp.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Khắc Toàn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới và kiểm chứng thực nghiệm tại 3 vùng sinh thái đại diện cho 3 miền của Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên mẫu khảo sát 741 người dân cùng 48 cuộc phỏng vấn sâu, luận án đã làm rõ sự tương đồng giữa quan điểm chỉ đạo của Đảng với các nguyên lý công tác xã hội cộng đồng. Kết quả nghiên cứu chứng minh vai trò quyết định của việc phát huy vai trò chủ thể của người dân và thực thi cơ chế trao quyền đối với sự thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp thiết thực nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở và thúc đẩy phát triển cộng đồng bền vững trong giai đoạn 2021–2030.