Tổng quan luận án

Vấn đề con người, bản chất con người và sự giải phóng con người là trung tâm của lịch sử tư tưởng triết học, đặc biệt được luận giải một cách khoa học và toàn diện trong chủ nghĩa duy vật lịch sử của C. Mác và Ph. Ăng-ghen. Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngừng kết hợp các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác với điều kiện cụ thể của quốc gia thông qua quá trình "Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác". Tư tưởng này được thể hiện xuyên suốt qua năm thế hệ lãnh đạo: Mao Trạch Đông đề cao địa vị làm chủ của nhân dân; Đặng Tiểu Bình đề ra tiêu chuẩn "Ba điều có lợi" nhằm giải phóng lực lượng sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân; Giang Trạch Dân xác lập thuyết "Ba đại diện" hướng tới lợi ích căn bản của quần chúng; Hồ Cẩm Đào khởi xướng "Quan điểm phát triển khoa học" với hạt nhân "lấy con người làm gốc" (dĩ nhân vi bản); và Tập Cận Bình định hình tư tưởng phát triển "lấy nhân dân làm trung tâm" trong thời đại mới.

Trải qua hơn 40 năm cải cách mở cửa (từ tháng 12 năm 1978), Trung Quốc đã giải phóng sức sản xuất, bảo đảm các quyền sinh tồn và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển con người. Tuy nhiên, quốc gia này cũng đang đối diện với nhiều hạn chế nan giải do tình trạng phát triển không cân bằng và không đầy đủ trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường sinh thái.

Về phía Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nhiều thách thức mà Việt Nam đang xử lý cũng tương đồng với các vấn đề Trung Quốc gặp phải. Tuy vậy, các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống từ góc độ triết học về phát triển con người toàn diện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam vẫn còn là khoảng trống khoa học đáng kể. Luận án tiến sĩ triết học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hường được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống nghiên cứu này.

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, những bài học kinh nghiệm về phát triển con người toàn diện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu, làm rõ quan điểm triết học Mác về phát triển con người toàn diện và sự vận dụng, bổ sung, phát triển của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
  2. Nghiên cứu để chỉ ra những thành tựu cũng như những hạn chế trong phát triển con người toàn diện của Trung Quốc kể từ khi tiến hành cải cách mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.
  3. Rút ra những bài học kinh nghiệm về phát triển con người toàn diện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc mà Việt Nam có thể tham khảo và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát triển con người toàn diện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Khảo sát lý luận và thực tiễn phát triển con người toàn diện trên 5 phương diện cơ bản: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ khi Trung Quốc khởi xướng cải cách mở cửa tại Hội nghị Trung ương 3 Khóa XI (tháng 12 năm 1978) đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2021).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được cấu trúc theo ba nhóm nội dung chính gồm các tài liệu tiếng Việt và tiếng nước ngoài:

Nhóm công trình nghiên cứu về lý luận của chủ nghĩa Mác về phát triển con người toàn diện:

  • Nghiên cứu tiếng Việt: Luận án tổng hợp các công trình tiêu biểu như sách Tư tưởng triết học về con người do Vũ Minh Tâm chủ biên (1996); tác phẩm Triết học Mác - Lênin về con người và việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Vũ Thiện Vương (2001); công trình Vấn đề con người và chủ nghĩa "lý luận không có con người" của Trần Đức Thảo (2001); các ấn phẩm của Hồ Sỹ Quý như Con người và phát triển con người trong quan niệm của Mác và Ph.Ăng-ghen (2003), Con người và phát triển con người (2007) cùng các bài báo (2000, 2014); bài viết của Cao Thu Hằng (2006); Nguyễn Trọng Chuẩn (2007); Hoàng Đình Cúc (2008); Vũ Quang Tạo (2008); Trần Thị Minh Ngọc (2016); Đặng Hữu Toàn (2018); Văn Thị Thanh Mai và Đinh Quang Thành (2018); cùng hệ thống nghiên cứu của Nguyễn Minh Hoàn (2007, 2008, 2018) về công bằng xã hội, tha hóa con người và mối quan hệ kinh tế - chính trị.
  • Nghiên cứu tiếng nước ngoài (tiếng Trung và tiếng Anh): Ding Xueliang (1983) khảo sát quan điểm phát triển con người của Mác qua ba hình thái xã hội lớn; Yuan Guiren với Bàn về tố chất con người (1993) và Tư tưởng nhân học của chủ nghĩa Mác (1996); Yuan Guiren và Han Qingxiang (2003); Han Qingxiang và Kang Anyi (2005); Yu Wujin (2002); Chen Zhishang (2004); Chen Jinfang (2006); Liu Xin (2008); Liu Minghe (2008); Zhang Shuguang (2009); Zhang Wu (2017). Luận án cũng tham khảo các tác giả phương Tây như Erich Fromm (1961), Khazoeva (2019), Philip Alston và Mary Robinson (2005), Stein Ringer (2017), Z. Xu (2015).

Nhóm công trình về quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc về phát triển con người toàn diện:

  • Nghiên cứu tiếng Việt: Bài viết của Phạm Tất Thắng (2009) về đổi mới công tác tư tưởng lý luận của Trung Quốc sau 30 năm cải cách mở cửa; bài viết của Đỗ Tiến Sâm (2019) về những sáng tạo lý luận trong Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc.
  • Nghiên cứu tiếng Trung: Công trình của Gu Xiangwei (2015) nghiên cứu đóng góp của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân; Liu Yu (2015) phân tích sự phát triển mới qua các thế hệ lãnh đạo; Zhu Rongying (2018) phân tích biểu hiện của lý luận phát triển con người toàn diện tại Trung Quốc đương đại; Wu Liguan và Zhao Hongwei (2017) luận giải tư tưởng "lấy nhân dân làm trung tâm" của Tập Cận Bình; cùng các nghiên cứu của Song Mengrong (2006), Yao Saohua (2009), Zhou Wenfeng (2010), Xiao Xiao (2013), Wang Lei và cộng sự (2017), Zhang Lipeng (2014), Liu Xinhuan (2014), Shi Chengjie và Hou Yongzhi (2017), Li Ming (2019).

Nhóm công trình về thực trạng phát triển con người toàn diện tại Trung Quốc:

  • Về thành tựu: Vũ Thành Tự Anh (2008) phân tích chỉ số HDI và chuyển dịch mô hình phát triển; Nguyễn Xuân Cường (2018) và Nguyễn Bỉnh Giang (2019) tổng kết các chỉ số kinh tế - xã hội sau 40 năm cải cách mở cửa; Zhang Shuyuan và Zhang Weixiang (2009); Wan Zizi (2011) xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển con người; Yi Dong (2012) đánh giá đóng góp của nhân tài đối với tăng trưởng kinh tế; Ren Guozhong và cộng sự (2016); hai Sách trắng về nhân quyền của Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện Trung Quốc (2018, 2019).
  • Về hạn chế: Nguyễn Xuân Cường (2006, 2018), Đỗ Tiến Sâm (2007), Nguyễn Văn Vượng (2009), Phùng Thị Huệ (2015); các tác giả Trung Quốc gồm Chen Shaoxu (2006), Ju Bailei (2014), Zhang Lipeng (2014), Liu Yanxin (2016) chỉ ra các mâu thuẫn về phân tầng xã hội, khoảng cách giàu nghèo, thất nghiệp, an toàn sản phẩm và mặt trái của phân công lao động mới.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các tài liệu trên đã tiếp cận từng khía cạnh lý luận Mác, tư tưởng của từng thế hệ lãnh đạo Trung Quốc hoặc từng mặt thực trạng kinh tế - xã hội, song chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện, đồng bộ dưới góc độ triết học về tiến trình vận động tư tưởng kết hợp với phân tích thực chứng 40 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc, từ đó đúc kết thành bài học kinh nghiệm và hệ thống giải pháp trực tiếp cho Việt Nam. Luận án đặt vị trí của mình vào việc giải quyết trọn vẹn mối liên hệ logic này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

  • Nền tảng lý luận kinh điển: Hệ thống quan điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lênin về con người, bản chất con người là "tổng hòa những quan hệ xã hội", học thuyết tha hóa lao động, con người hiện thực, quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, và điều kiện để con người phát triển tự do, toàn diện (giải phóng khỏi chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, rút ngắn thời gian lao động tất yếu, gia tăng thời gian tự do).
  • Lý luận chính trị - triết học của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Quá trình "Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác", hệ thống lý luận chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc qua 5 thời kỳ lãnh đạo: tư tưởng xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa (Mao Trạch Đông); tiêu chuẩn "Ba điều có lợi" và con người "4 có": có lý tưởng, có đạo đức, có văn hóa, có kỷ luật (Đặng Tiểu Bình); thuyết "Ba đại diện" (Giang Trạch Dân); "Quan điểm phát triển khoa học" với nguyên tắc "lấy con người làm gốc" (Hồ Cẩm Đào); và quan điểm phát triển "lấy nhân dân làm trung tâm" giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu cuộc sống tốt đẹp với phát triển không cân bằng, không đầy đủ (Tập Cận Bình).
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đường lối phát triển con người toàn diện, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương nhằm bóc tách các văn kiện chính trị, luận điểm triết học và dữ liệu thực tế để khái quát thành các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp lịch sử và lôgíc: Nhận diện tiến trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc gắn liền với từng giai đoạn cải cách mở cửa từ năm 1978 đến nay.
  • Phương pháp thu thập thông tin: Khai thác văn kiện gốc của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nhà nước Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam, các báo cáo Sách trắng và công trình học thuật chuyên khảo.
  • Phương pháp thống kê: Ứng dụng cụ thể trong Chương 1 và Chương 3 để tập hợp, so sánh và phân tích các chỉ số phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục, giảm nghèo, bảo hiểm xã hội và phân hóa vùng miền.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Tư liệu văn bản kinh điển mác-xít (Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Hệ tư tưởng Đức, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, bộ Tư bản); các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam; số liệu của Tổng cục Thống kê Nhà nước Trung Quốc; các ấn phẩm Sách trắng nhân quyền Trung Quốc năm 2018 và 2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo ba trục nội dung: lý luận Mác về con người; quan điểm phát triển con người của Đảng Cộng sản Trung Quốc; và thực trạng phát triển con người trong thực tiễn cải cách mở cửa. Tác giả chỉ ra các thành tựu của giới học thuật đi trước trong việc làm rõ bản chất xã hội của con người, vai trò của giáo dục, an sinh xã hội và sự chuyển biến đường lối qua các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc. Đồng thời, chương này xác định rõ các nội dung còn bỏ ngỏ, khẳng định tính tất yếu của việc thực hiện một đề tài nghiên cứu chuyên biệt kết hợp giữa lý luận triết học và thực tiễn so sánh giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về phát triển con người toàn diện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc

Chương 2 đi sâu phân tích hai khối lý luận nền tảng:

  1. Tư tưởng triết học Mác về phát triển con người toàn diện: Phân tích quá trình hình thành tư tưởng qua các tác phẩm kinh điển:
    • Phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen (1843): Mác chuyển từ con người trừu tượng sang "con người hiện thực" và "nhân dân hiện thực", khẳng định nhân cách gắn liền với cá tính của chủ thể sống.
    • Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844: Phân tích hiện tượng "lao động bị tha hóa" trong điều kiện chế độ tư hữu, khi con người bị biến thành "hàng hóa có ý thức", mất đi tính chất người; xác lập mục tiêu đưa con người chiếm hữu bản chất toàn diện của mình như một thực thể toàn vẹn.
    • Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846): Khẳng định sự phát triển của cá nhân phụ thuộc vào điều kiện vật chất của sản xuất; chỉ ra 4 nội hàm phát triển toàn diện gồm: nhu cầu, quan hệ xã hội, năng lực và cá tính; xác định hoạt động tự chủ và cá tính là thước đo căn bản; nhấn mạnh chỉ trong cộng đồng thì tự do cá nhân mới được bảo đảm.
    • Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) và Bộ Tư bản (1867): Xác định xã hội cộng sản là liên hợp của những người tự do, trong đó "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người"; chỉ ra quy luật giá trị thặng dư và thời gian tự do là điều kiện vật chất để phát triển cá tính phong phú.
  2. Tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc về phát triển con người toàn diện: Khái quát hóa tiến trình vận dụng và làm phong phú lý luận Mác qua 5 thế hệ lãnh đạo:
    • Mao Trạch Đông: Định hình con người mới xã hội chủ nghĩa phát triển về đức, trí, thể.
    • Đặng Tiểu Bình: Đề ra chuẩn mực con người "4 có" (có lý tưởng, có đạo đức, có văn hóa, có kỷ luật) gắn với tiêu chuẩn "Ba điều có lợi".
    • Giang Trạch Dân: Gắn phát triển con người toàn diện với yêu cầu bản chất của xây dựng văn minh vật chất và văn minh tinh thần thông qua thuyết "Ba đại diện".
    • Hồ Cẩm Đào: Đưa ra "Quan điểm phát triển khoa học" với hạt nhân "lấy con người làm gốc" (dĩ nhân vi bản).
    • Tập Cận Bình: Định vị nguyên tắc "lấy nhân dân làm trung tâm", coi phục hưng dân tộc ("Giấc mơ Trung Quốc") là giấc mơ của nhân dân, giải quyết mâu thuẫn xã hội thời đại mới.

Chương 3: Thực trạng phát triển con người toàn diện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc

Chương 3 phân tích thực chứng kết quả 40 năm cải cách mở cửa trên hai phương diện thành tựu và hạn chế:

  • Thành tựu:
    • Giải phóng lực lượng sản xuất, gia tăng thu nhập và mức sống người dân.
    • Công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả lớn ở khu vực nông thôn.
    • Mở rộng mạng lưới an sinh xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm dưỡng lão.
    • Chú trọng chiến lược "Nhân tài làm phồn vinh đất nước", nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thứ hạng sức mạnh mềm quốc gia.
  • Hạn chế:
    • Tồn tại khoảng cách phát triển lớn giữa thành thị và nông thôn, giữa miền Đông duyên hải phát triển và miền Tây kém phát triển.
    • Phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu nhập và điều kiện thụ hưởng văn hóa, y tế, an sinh xã hội giữa các tầng lớp dân cư.
    • Vấn đề gia tăng thất nghiệp và áp lực việc làm trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước.
    • Nguy cơ từ ô nhiễm môi trường sinh thái và sự xuất hiện của các sản phẩm kém chất lượng đe dọa sức khỏe người dân.
    • Trình độ đạo đức, tố chất văn minh của một bộ phận cư dân chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Chỉ tiêu / Lĩnh vực Dữ liệu ghi nhận trong luận án
Tỷ lệ hộ nghèo nông thôn Giảm từ 97,5% (năm 1978) xuống còn 3,1% (năm 2017), tương ứng còn khoảng 30,46 triệu người nghèo
Tăng trưởng thu nhập cư dân Thu nhập bình quân năm 2017 đạt 25.974 NDT; giai đoạn 2013-2016 thu nhập dân nghèo nông thôn tăng bình quân 10,7%/năm
Độ bao phủ an sinh xã hội (2017) Bảo hiểm dưỡng lão bao phủ 900 triệu dân; Bảo hiểm y tế cơ bản đạt trên 1,3 tỷ dân
Đô thị hóa và dân số (2017) Dân số toàn quốc đạt 1,39 tỷ người, trong đó dân số đô thị chiếm khoảng 813,47 triệu người
Xếp hạng sức mạnh mềm (2017) Xếp thứ 25 trên thế giới
Đóng góp của nhân tài (2010) Nhân tài đóng góp 26,6% vào tăng trưởng kinh tế (Tổng cục Thống kê Trung Quốc)
Phân hóa chỉ số HDI theo vùng Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân đạt HDI > 0,8 (nhóm cao); 5 tỉnh miền Tây ở mức trung bình, Tây Tạng ở mức thấp

Chương 4: Ý nghĩa tham khảo của tư tưởng phát triển con người toàn diện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc đối với Việt Nam

Chương 4 liên hệ trực tiếp với bối cảnh Việt Nam:

  1. Tình hình phát triển con người toàn diện ở Việt Nam: Phân tích các thành tựu của công cuộc Đổi mới trong việc nâng cao đời sống nhân dân, phát triển giáo dục, y tế, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời chỉ ra các thách thức nội tại về chất lượng nguồn nhân lực, phân hóa giàu nghèo và bảo vệ môi trường.
  2. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc:
    • Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, không ngừng đổi mới sáng tạo lý luận phù hợp với đặc điểm đất nước.
    • Luôn quán triệt quan điểm lấy con người, lấy nhân dân làm trung tâm và làm gốc của mọi chiến lược phát triển.
    • Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo đảm an sinh xã hội toàn dân.
    • Phát triển đồng bộ 5 lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và văn minh sinh thái.
  3. Hệ thống giải pháp phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay:
    • Đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở vật chất vững chắc cho sự phát triển con người.
    • Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ nhằm nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
    • Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, thực hiện giảm nghèo bền vững và thu hẹp khoảng cách vùng miền.
    • Phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm đầy đủ các quyền con người và quyền công dân.
    • Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao chất lượng cuộc sống toàn diện của nhân dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án:

  1. Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa và làm rõ tư tưởng triết học Mác về phát triển con người toàn diện (từ bản chất con người, khắc phục tha hóa lao động, giải phóng cá tính, phát triển năng lực và quan hệ xã hội trong liên hợp tự do); đồng thời làm sáng tỏ logic kế thừa, bổ sung và phát triển lý luận đó của Đảng Cộng sản Trung Quốc qua 5 thế hệ lãnh đạo trong tiến trình "Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác".
  2. Về mặt thực tiễn: Luận án phân tích khách quan và toàn diện thực trạng phát triển con người toàn diện tại Trung Quốc sau hơn 40 năm cải cách mở cửa; chỉ ra cả những thành tựu nổi bật (về kinh tế, giảm nghèo, an sinh xã hội, phát huy nhân tài) lẫn các mâu thuẫn, hạn chế gay gắt (phân hóa giàu nghèo, chênh lệch Đông - Tây, áp lực lao động, suy thoái môi trường).
  3. Về mặt gợi mở và ứng dụng: Luận án đúc kết các bài học kinh nghiệm từ mô hình Trung Quốc có giá trị tham khảo cho Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa, an sinh xã hội và môi trường nhằm thúc đẩy phát triển con người toàn diện ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Hoàn thiện thể chế kinh tế tạo điều kiện vật chất để giải phóng sức sáng tạo của người lao động.
  • Nâng cao năng lực hệ thống y tế cơ sở và an sinh xã hội, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển.
  • Chú trọng đào tạo nhân tài và bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh cho thế hệ trẻ.
  • Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Do tính chất biến động liên tục của thực tiễn Trung Quốc thời đại mới và giới hạn nguồn tư liệu thứ cấp, luận án tập trung khảo sát các dữ liệu chính thống từ văn kiện và thống kê công bố giai đoạn 1978 - 2021, chưa thể bao quát toàn bộ các biến chuyển chính sách phát sinh sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục cập nhật những bước phát triển lý luận mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc về "Hiện đại hóa kiểu Trung Quốc" và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến sự chuyển đổi phương thức lao động và phát triển con người ở cả Trung Quốc và Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Hồ Chí Minh học, Xây dựng Đảng và Quan hệ quốc tế; đặc biệt có giá trị ở Chương 1 (tổng quan tài liệu dày dặn) và Chương 2 (hệ thống hóa các văn bản kinh điển mác-xít).
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp tư liệu giảng dạy các học phần Triết học Mác - Lênin, Triết học Trung Quốc đương đại và chuyên đề phát triển con người.
  • Cán bộ hoạch định chính sách: Tham khảo các bài học thực tiễn về an sinh xã hội, giảm nghèo, quy hoạch phát triển vùng và bảo đảm công bằng xã hội tại Chương 3 và Chương 4 để ứng dụng trong xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực và an sinh xã hội tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định bản chất của phát triển con người toàn diện trong triết học Mác là gì?
Luận án khẳng định trọng tâm của khái niệm là "sự phát triển", xuất phát từ con người hiện thực trong hoạt động thực tiễn. Bản chất của phát triển con người toàn diện là sự phát triển toàn diện bản chất xã hội của con người, bao gồm 4 phương diện cơ bản: nhu cầu, quan hệ xã hội, năng lực và cá tính; trong đó hoạt động tự chủ và cá tính phong phú là thước đo căn bản, gắn liền với điều kiện xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và gia tăng thời gian tự do.

2. Quá trình "Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác" về phát triển con người toàn diện qua 5 thế hệ lãnh đạo có các điểm nhấn nào?

  • Mao Trạch Đông: Đặt nền móng chính trị, tư tưởng, xây dựng con người phát triển đức, trí, thể.
  • Đặng Tiểu Bình: Gắn với thực tiễn cải cách mở cửa, nêu "Ba điều có lợi" và con người "4 có" (lý tưởng, đạo đức, văn hóa, kỷ luật).
  • Giang Trạch Dân: Thuyết "Ba đại diện", khẳng định phát triển con người là yêu cầu bản chất của chủ nghĩa xã hội.
  • Hồ Cẩm Đào: "Quan điểm phát triển khoa học", lấy con người làm gốc (dĩ nhân vi bản).
  • Tập Cận Bình: Tư tưởng "lấy nhân dân làm trung tâm", phục hưng dân tộc vì hạnh phúc của nhân dân.

3. Luận án trích dẫn những số liệu thực chứng tiêu biểu nào về thành tựu phát triển con người của Trung Quốc sau 40 năm cải cách mở cửa?
Luận án dẫn các số liệu: tỷ lệ nghèo nông thôn giảm từ 97,5% (năm 1978) xuống 3,1% (năm 2017); thu nhập cư dân năm 2017 đạt 25.974 NDT; bảo hiểm dưỡng lão bao phủ 900 triệu người, bảo hiểm y tế đạt trên 1,3 tỷ người; đóng góp của nhân tài vào tăng trưởng kinh tế đạt 26,6% (năm 2010); sức mạnh mềm xếp thứ 25 thế giới năm 2017.

4. Những hạn chế lớn nhất trong phát triển con người toàn diện mà Trung Quốc gặp phải được luận án chỉ ra là gì?
Bao gồm: sự phát triển không cân bằng giữa miền Đông duyên hải (HDI > 0,8) và miền Tây (HDI trung bình và thấp); phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn; vấn đề thất nghiệp trong cải cách doanh nghiệp nhà nước; ô nhiễm môi trường và thực phẩm kém chất lượng đe dọa sức khỏe con người; tố chất đạo đức và văn minh chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế.

5. Luận án đề xuất các nhóm giải pháp căn bản nào cho Việt Nam?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN tạo tiền đề vật chất; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ; hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững; phát huy dân chủ và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN bảo đảm quyền con người; phát triển văn hóa gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thu Hường là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Triết học, phân tích có hệ thống lý luận triết học Mác và sự phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc về vấn đề con người. Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cùng phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê, luận án đã làm rõ bức tranh toàn cảnh về thành tựu và hạn chế trong thực tiễn 40 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc. Trên cơ sở đó, công trình đúc kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có giá trị tham khảo thiết thực cho công cuộc phát triển con người toàn diện tại Việt Nam hiện nay.