Tổng quan luận án
Tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam và cách mạng Việt Nam. Trong di sản đó, tư tưởng về phát triển con người toàn diện giữ vị trí trung tâm, thể hiện sự kết tinh giữa truyền thống nhân văn dân tộc và lý luận con người của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Luận án chỉ ra tính cấp thiết xuất phát từ thực tiễn công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Quá trình phát triển nhanh và bền vững của đất nước đòi hỏi phải thiết kế, xây dựng một chiến lược con người khoa học. Đồng thời, thực tế công tác giáo dục tại nhà trường, gia đình và xã hội đang tồn tại sự lệch lạc đáng kể giữa việc dạy "chữ", dạy "nghề" và dạy "người". Tình trạng chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn mà xem nhẹ giáo dục đạo lý, trách nhiệm công dân đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nhân cách của một bộ phận thanh thiếu niên cũng như cán bộ, đảng viên. Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện là yêu cầu cấp bách nhằm cung cấp định hướng cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo và phát triển con người mới.
Mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh, khẳng định giá trị khoa học của tư tưởng đó và vận dụng vào việc phát triển con người mới ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện.
- Luận chứng những nội dung cơ bản trong tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh.
- Nêu lên những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn phát triển con người theo quan điểm toàn diện của Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay.
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người toàn diện vào xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện trên các phương diện thể lực, đạo đức, trí tuệ và tài năng. Phạm vi nghiên cứu bao quát các nguồn gốc hình thành tư tưởng từ truyền thống dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin, các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh qua các thời kỳ lịch sử cách mạng và thực tiễn vận dụng trong thời kỳ đổi mới tại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6-1991), nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng với việc thành lập Hội đồng quốc gia nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh cùng nhiều đề tài cấp Nhà nước được nghiệm thu. Trong mảng đề tài về con người và giáo dục đào tạo, các công trình tiêu biểu được ghi nhận bao gồm:
- Vũ Khiêu (1990): Bài viết "Trồng cây và trồng người" trên Tạp chí Triết học (số 4/1990), phân tích khái quát ý nghĩa chiến lược của việc đào tạo con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Song Thành (1997): Bài viết "Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người" trên Tạp chí Công tác khoa giáo (số tháng 12/1997), làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí của con người trong sự nghiệp cách mạng.
- Phạm Minh Hạc (1996): Phần III trong chuyên khảo "Phát triển giáo dục, phát triển con người, phục vụ phát triển xã hội - kinh tế" (Nhà xuất bản Khoa học xã hội), tiếp cận sâu sắc tư tưởng giáo dục và đào tạo con người của Hồ Chí Minh gắn với bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội.
- Thành Duy (2001): Công trình "Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện", tổng thuật và hệ thống hóa các nét lớn trong quan điểm của Hồ Chí Minh về con người toàn diện.
| Tác giả / Năm công bố |
Tên công trình / Ấn phẩm |
Nội dung tiếp cận chính |
| Vũ Khiêu (1990) |
Trồng cây và trồng người (Tạp chí Triết học, số 4/1990) |
Ý nghĩa tư tưởng "trồng người" của Hồ Chí Minh |
| Phạm Minh Hạc (1996) |
Phát triển giáo dục, phát triển con người, phục vụ phát triển xã hội - kinh tế (Nxb KHXH) |
Tư tưởng giáo dục, đào tạo con người phục vụ mục tiêu kinh tế - xã hội |
| Song Thành (1997) |
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người (Tạp chí Công tác khoa giáo, số 12/1997) |
Mối quan hệ giữa con người và chiến lược "trồng người" |
| Thành Duy (2001) |
Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện |
Khái quát các nét lớn về con người phát triển toàn diện |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc nêu lên các nét lớn, chủ yếu hoặc phân tích từng khía cạnh cụ thể trong phạm vi các bài báo khoa học. Nhiều nội dung quan trọng chưa được khảo cứu đầy đủ, đặc biệt là việc đào tạo con người toàn diện trên các mặt "đức, trí, thể, mỹ", yêu cầu "hồng đến nơi, chuyên đến chốn". Luận án được thực hiện nhằm xây dựng một nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống, làm sáng tỏ cả bề rộng lẫn chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh cùng hệ thống đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về con người.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu được luận án sử dụng bao gồm:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Làm nền tảng xem xét con người trong mối quan hệ hữu cơ với hoàn cảnh lịch sử - xã hội.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Khảo sát các nguồn tài liệu, các tác phẩm của Hồ Chí Minh và kinh điển Mác - Lênin để đúc kết thành các luận điểm lý luận.
- Phương pháp logic - lịch sử: Theo dõi sự hình thành và phát triển tư tưởng con người toàn diện từ truyền thống dân tộc, qua học thuyết Mác - Lênin đến hệ tư tưởng Hồ Chí Minh và yêu cầu thực tiễn cách mạng.
- Phương pháp so sánh và thống kê tư liệu: Đối chiếu các quan niệm giáo dục truyền thống với quan điểm cách mạng của Hồ Chí Minh, phân loại tần suất xuất hiện và nội hàm của các phạm trù đạo đức.
Nguồn tư liệu nghiên cứu chủ yếu gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin (Luận cương về Phoi-ơ-bắc, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản...).
- Các tập trong bộ Hồ Chí Minh Toàn tập (từ tác phẩm Đường cách mệnh năm 1927, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, văn kiện Đại hội II năm 1951, Đại hội III năm 1960, đến Di chúc năm 1969 cùng các bài nói, thư gửi ngành giáo dục).
- Tư liệu lịch sử tư tưởng Việt Nam (Khóa hư lục của Trần Thái Tông, tác phẩm y học của Lê Hữu Trác, các tư liệu về hệ thống giáo dục thời Lý, Trần, Lê...).
- Các tài liệu điều tra, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đã công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương với 7 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Chương 1 tập trung phân tích hai cội nguồn lý luận căn bản tạo nên tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh: truyền thống tư tưởng của dân tộc Việt Nam và lý luận con người của chủ nghĩa Mác - Lênin.
1. Tư tưởng giáo dục, đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam - cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Luận án phân tích bối cảnh tự nhiên, kinh tế và xã hội quy định sự hình thành tư tưởng đào tạo con người của dân tộc Việt Nam:
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí cửa ngõ Đông Nam Á, khí hậu khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên đe dọa đòi hỏi con người phải rèn luyện thân thể, nâng cao thể lực và ý thức bảo vệ sức khỏe.
- Điều kiện kinh tế: Nền kinh tế tiểu nông lạc hậu, độc canh cây lúa, tư tưởng "nhất nông vi bản" và trật tự "sĩ, nông, công, thương" làm cho nền kinh tế kém năng động, kỹ thuật chiến đấu thô sơ, dẫn đến việc xã hội đề cao các phẩm chất tinh thần, ý chí và đạo lý làm người.
- Điều kiện lịch sử - chính trị: Thường xuyên đối đầu với họa ngoại xâm từ phương Bắc và phương Tây, đòi hỏi con người phải rèn luyện võ nghệ, sức khỏe, tinh thần cảnh giác và sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.
- Giao thoa văn hóa: Sự tiếp nhận Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Ki-tô giáo. Nho giáo chiếm ưu thế nhờ hệ thống phạm trù hoàn chỉnh và mẫu hình người "quân tử", "kẻ sĩ", "đại trượng phu" nhấn mạnh sự tự giác "tu thân".
Về mặt triết lý, cha ông ta đã có cái nhìn biện chứng mộc mạc về nguồn gốc con người. Trần Thái Tông trong Khóa hư lục khẳng định con người do tạo hóa sinh thành, bắt nguồn từ tự nhiên. Lê Hữu Trác cho rằng con người là một bộ phận của giới tự nhiên, tiến hóa tất yếu từ loài vô tình sang loài hữu tình ("cái vô tình nảy ra cái hữu tình"). Dân gian cũng khẳng định vai trò chủ thể qua các quan niệm "người ta là hoa của đất", "một mặt người bằng mười mặt của", "nhân định thắng thiên", "đức năng thắng số".
Hệ thống nội dung giáo dục truyền thống tập trung vào các trục chính:
- Giáo dục đạo lý làm người: Kết hợp tình nghĩa dân tộc ("thương người như thể thương thân", "uống nước nhớ nguồn") với tư tưởng từ bi (Phật giáo), vô vi (Đạo giáo) và tam cương ngũ thường, cần kiệm liêm chính (Nho giáo).
- Giải quyết mối quan hệ "Trung", "Hiếu" và "Ái quốc": Vượt qua quan niệm trung hiếu hẹp hòi Nho giáo để hướng về lợi ích dân tộc. Các minh chứng lịch sử gồm: Trần Hưng Đạo không cướp ngôi vua theo lời trăn trối của Trần Liễu; Nguyễn Phi Khanh dặn Nguyễn Trãi trở về lo cứu nước; Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích theo vua Quang Trung; Trương Công Định kháng lệnh nghị hòa của triều đình Huế để chống Pháp; Hội thề đền Đồng Cổ (ngày 4/4 âm lịch thời Lý - Trần) răn đe tội bất trung, bất hiếu.
- Giáo dục nhân nghĩa, thương dân và thanh liêm: Thực thi chính sách "thân dân", "khoan thư sức dân". Vua Lê Thánh Tông đặt định kỳ 3 năm khảo hạch quan lại dựa trên 3 tiêu chí: có được dân yêu mến không, có lòng yêu dân không, trong hạt có dân trốn đi nơi khác không. Các tấm gương chính trực được nêu bật gồm Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ.
- Trí dục và tinh thần hiếu học: Nhận thức "nhân bất học bất tri lý". Động viên việc học qua các buổi bình văn ngày sóc (mùng 1) và ngày vọng (ngày rằm) tại Quốc Tử Giám và các trường huyện, tỉnh; tổ chức vinh quy bái tổ, khắc tên vào văn bia tiến sĩ.
Hệ thống phương pháp giáo dục truyền thống bao gồm:
- Phương pháp trí dục: Học kết hợp với độc lập suy nghĩ ("Học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc mất công không" - Luận ngữ); phương pháp gợi mở, vấn đáp; dạy học phân hóa theo đối tượng; phát huy tinh thần hiếu học, lạc học ("Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học" - Luận ngữ).
- Phương pháp đức dục: Tự tu dưỡng khắc kỷ (tự biện luận, tự kiểm điểm khi một mình, nguyên tắc "tiên trách kỷ, hậu trách nhân"); quan sát người khác để tự sửa mình; chọn bạn học tập; sự nêu gương của người thầy ("thầy biết mười chỉ để dạy một").
- Kết hợp gia đình, nhà trường và xã hội: Nguyên tắc "tiên học lễ, hậu học văn", gắn kết đức dục với trí dục, thống nhất giữa "tri" và "hành".
Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc các giá trị giáo dục truyền thống:
- Kế thừa và cải biến phạm trù: Sử dụng các khái niệm Cần, Kiệm, Liêm, Chính (tần số xuất hiện cao nhất, xem như 4 đức cơ bản như trời có 4 mùa, đất có 4 phương); Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm (đối với cán bộ quân sự, tướng lĩnh); Trung, Hiếu ("trung với Đảng, hiếu với dân"); Yêu nước, thương dân (nền tảng tư tưởng cốt lõi).
- Kế thừa nội dung đạo lý làm người: Đưa 24 điều rèn luyện vào tác phẩm Đường cách mệnh (1927); ghi lời dặn "Học để làm người" tại Trường Nguyễn Ái Quốc trung ương; yêu cầu cán bộ phải có đạo đức cách mạng, thương nước, thương dân.
- Kế thừa và phát triển phương pháp: Kết hợp đức dục với trí dục ("hồng" và "chuyên", "có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó"); thống nhất tri và hành (lý luận gắn liền với thực tế, học tập kết hợp lao động sản xuất); động viên tinh thần thi đua yêu nước, khen thưởng người tốt việc tốt, phong trào "dạy tốt, học tốt", "tiếng trống Bắc Lý", nêu gương các cá nhân vượt khó như Nguyễn Ngọc Ký, Hoa Xuân Tứ.
2. Tư tưởng phát triển con người toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin - tiền đề lý luận cơ bản
Học thuyết Mác - Lênin cung cấp cơ sở khoa học để luận giải về bản chất con người và phát triển con người toàn diện:
- Bản chất xã hội của con người: Luận cương về Phoi-ơ-bắc của C. Mác xác định: "Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng vốn có của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội". Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; con người hình thành nhân cách thông qua quá trình xã hội hóa, giao tiếp, giáo dục và lao động.
- Thực thể sinh vật - xã hội: Con người là sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội. Mặt sinh vật (thể lực, sức khỏe, quy luật biến dị - di truyền) là tiền đề, điều kiện vật chất cần thiết; mặt xã hội giữ vai trò quy định, chi phối và nhân văn hóa các nhu cầu sinh học.
- Phê phán sự tha hóa con người: Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, sự phân công lao động ngặt nghèo và quan hệ bóc lột làm con người bị tha hóa, phát triển què quặt, phiến diện, trở thành "vật phụ thuộc vào máy móc", "công cụ biết nói".
- Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản xác định: "Thay cho xã hội tư bản cũ... sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người".
- Khái niệm con người toàn diện: V.I. Lênin khẳng định mục tiêu đào tạo "những con người phát triển về mọi mặt, được chuẩn bị về mọi mặt và biết làm mọi việc". Ph. Ăng-ghen dự báo về việc xóa bỏ sự ngăn cách cố định giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Sự phát triển toàn diện là nền tảng để phát triển các năng khiếu chuyên biệt.
Chương 2: Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
(Được triển khai theo nhiệm vụ nghiên cứu thứ hai của luận án)
Nội dung chương tập trung luận chứng hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về các cấu phần cấu thành con người phát triển toàn diện:
- Phát triển thể lực: Chăm sóc sức khỏe, rèn luyện thân thể là tiền đề vật chất cho mọi hoạt động cách mạng.
- Phát triển trí tuệ và năng lực nghề nghiệp: Nâng cao trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật, nắm vững chuyên môn, xóa nạn mù chữ.
- Phát triển đạo đức cách mạng: Rèn luyện phẩm chất Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư, trung với nước, hiếu với dân, tinh thần quốc tế trong sáng.
- Phát triển mỹ dục và đời sống tinh thần: Xây dựng nếp sống văn hóa mới, cảm thụ cái đẹp, sống có tình nghĩa, gắn bó với cộng đồng.
- Mối quan hệ "Hồng" và "Chuyên": Đạo đức là cái gốc, tài năng là phương tiện thực hiện; sự phát triển toàn diện không đối lập mà là bệ đỡ cho năng lực chuyên sâu.
Chương 3: Thực trạng và phương hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới
(Được triển khai theo nhiệm vụ nghiên cứu thứ ba và thứ tư của luận án)
Chương 3 phân tích thực trạng công tác giáo dục, đào tạo con người trong thời kỳ đổi mới và đề xuất phương hướng vận dụng:
- Thực trạng phát triển con người: Đánh giá những thành tựu về nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực; chỉ ra các bất cập trong việc mất cân đối giữa dạy chữ, dạy nghề và dạy người, sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, nhân dân dưới tác động của cơ chế thị trường.
- Phương hướng và giải pháp vận dụng:
- Xây dựng chiến lược con người toàn diện đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Đổi mới căn bản nội dung, phương pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa đức dục, trí dục, thể dục và mỹ dục.
- Thực hiện phương châm giáo dục: lý luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội.
- Đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức cách mạng, rèn luyện tác phong Cần, Kiệm, Liêm, Chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định các kết quả và đóng góp mới về mặt khoa học:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa, phân tích và làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện.
- Luận giải rõ ràng sự kế thừa có phê phán, cải tạo các giá trị nhân văn truyền thống dân tộc và sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về con người của Hồ Chí Minh, góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Luận chứng tính cấp thiết và cung cấp cơ sở khoa học cho việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam trong giai đoạn đổi mới.
- Đề xuất các định hướng nhằm khắc phục tình trạng lệch lạc trong giáo dục (quá chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn, xem nhẹ đạo đức công dân và đạo lý làm người).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát vấn đề từ góc độ lý luận tư tưởng và lịch sử tư tưởng; việc phân tích các biểu hiện lệch lạc trong thực tiễn giáo dục dựa trên nguồn số liệu, tài liệu điều tra xã hội học sẵn có tại thời điểm nghiên cứu, chưa thể bao quát hết các biến đổi đa chiều của bối cảnh kinh tế thị trường những giai đoạn tiếp theo.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu nghiên cứu cơ chế và tiêu chí định lượng hóa các chuẩn mực con người toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho từng nhóm đối tượng cụ thể (thanh niên, sinh viên, cán bộ quản lý); hoàn thiện mô hình phối hợp thể chế giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục nhân cách.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu học thuật có giá trị cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho việc giảng dạy và nghiên cứu môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, Triết học Mác - Lênin, Lịch sử tư tưởng Việt Nam tại các trường đại học và cao đẳng.
- Cán bộ quản lý, người làm chính sách giáo dục: Cung cấp luận cứ lý luận phục vụ việc hoạch định chiến lược phát triển con người, cải cách chương trình giáo dục phổ thông và đại học, thiết lập sự cân đối giữa giáo dục tri thức và giáo dục đạo đức.
Phần nội dung phân tích quá trình Hồ Chí Minh tiếp thu, cải tạo các phạm trù Nho học (Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Trung, Hiếu) và phương pháp giáo dục truyền thống (kết hợp đức dục - trí dục, tri - hành) có giá trị tư liệu chuyên khảo cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định cội nguồn tư tưởng truyền thống của dân tộc tác động đến quan điểm con người của Hồ Chí Minh gồm những yếu tố nào?
Luận án chỉ ra tư tưởng con người của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ điều kiện địa lý, kinh tế tiểu nông và lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc; các quan niệm nhân sinh mộc mạc của Trần Thái Tông, Lê Hữu Trác; truyền thống đạo lý yêu nước, thương dân, tinh thần hiếu học, chuộng nhân nghĩa và hệ thống phương pháp giáo dục truyền thống kết hợp đức dục với trí dục, học đi đôi với hành.
2. Hồ Chí Minh đã tiếp thu và biến đổi các phạm trù đạo đức Nho giáo như thế nào?
Hồ Chí Minh đã loại bỏ các yếu tố hạn chế, đẳng cấp của Nho giáo phong kiến, đưa vào nội hàm cách mạng mới: biến "Trung với vua" thành "Trung với nước, trung với Đảng"; biến "Hiếu với cha mẹ" thành "Hiếu với dân"; đưa Cần, Kiệm, Liêm, Chính thành chuẩn mực đạo đức cách mạng phổ quát của mọi công dân và cán bộ.
3. Quan điểm cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất con người được luận án sử dụng là gì?
Luận án dựa trên luận điểm của C. Mác trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc: Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội; con người là thực thể sinh vật - xã hội thống nhất; sự tha hóa lao động trong chủ nghĩa tư bản làm méo mó nhân cách con người; và mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi người và mọi người.
4. Luận án chỉ ra thực trạng lệch lạc nào trong công tác giáo dục hiện nay cần khắc phục?
Đó là sự mất cân đối giữa dạy "chữ", dạy "nghề" và dạy "người". Hệ thống giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội có xu hướng chỉ chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn, khoa học kỹ thuật để kiếm sống mà xem nhẹ việc giáo dục đạo lý làm người, trách nhiệm công dân, dẫn đến sự méo mó nhân cách ở một bộ phận thanh thiếu niên và cán bộ.
5. Mối quan hệ giữa "đức" và "tài", "hồng" và "chuyên" được Hồ Chí Minh xác định ra sao?
Theo luận án trích dẫn, Hồ Chí Minh khẳng định đức và tài, hồng và chuyên phải thống nhất hữu cơ: "Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó". Đức là nền tảng, gốc rễ của nhân cách, tài là công cụ thực hiện lý tưởng cách mạng.
Kết luận
Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp phát triển con người toàn diện trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và cội nguồn văn hóa dân tộc. Tác giả đã làm sáng tỏ quá trình tiếp thu có chọn lọc và cải biến mang tính cách mạng đối với các giá trị tư tưởng truyền thống, đặc biệt là hệ thống phạm trù đạo đức và phương pháp giáo dục. Công trình mang lại những luận cứ lý luận và thực tiễn để định hướng giải quyết sự lệch lạc giữa dạy chữ, dạy nghề và dạy người trong hệ thống giáo dục hiện nay. Kết quả nghiên cứu có giá trị làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và xây dựng chiến lược phát triển con người thời kỳ đổi mới.