Chương 1: Tổng quan nghiên cứu phát triển chương trình truyền thông Marketing sản phẩm cửa cuốn của công ty TNHH Thiên Minh. Chương 2: Một số lý luận cơ bản về giải pháp phát triển chương trình truyền thông Marketing sản phẩm cửa cuốn của công ty TNHH Thiên Minh Chương 3: Phân tích các kết quả nghiên cứu về thực trạng chương trình truyền thông Marketing sản phẩm cửa cuốn của công ty TNHH Thiên Minh. Chương 4: Những đề xuất giải pháp phát triển chương trình truyền thông Marketing sản phẩm cửa cuốn của công ty TNHH Thiên Minh. Đặng Thị Hoa – K46C5 6 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phạm Thúy Hồng CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN THÔNG MARKETING SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY KINH DOANH 2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm Marketing Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm Marketing, nổi bật nhất là các khái niệm của Phillip Kotler, Adcoketal, I.
Ansoff và một số tổ chức khác: Theo Adcoketal: “Marketing là một sản phẩm tốt được bán ở những nơi thuận tiện cho đúng người cần mua với mức giá hợp lý” (nguồn: website: http://kythuatmarketing. Ansoff : “Marketing là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường làm định hướng” (nguồn: website: http://kythuatmarketing.com/) Theo Hiệp Hội Marketing Mỹ 2008: “Marketing là một nhiệm vụ trong cơ cấu tổ chức và là một tập hợp các tiến trình để nhằm tạo ra, trao đổi, truyền tải các giá trị đến các khách hàng, và nhằm quản lý quan hệ khách hàng bằng những cách khác nhau để mang về lợi ích cho tổ chức và các thành viên trong hội đồng cổ đông” (nguồn: website: http://kythuatmarketing.com/) Có rất nhiều định nghĩa về Marketing, song dưới góc độ của một nhà Marketing có thể hiểu Marketing theo định nghĩa của Phillip Kotler như sau: “ Marketing là sự phân tích, tổ chức, kế hoạch hóa và kiểm tra những khả năng thu hút khách hanggf của một công ty cũng như chính sách và hoạt động với quan điểm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của nhóm khách hàng mục tiêu” (nguồn: Giáo trình Marketing thương mại, trường đại học Thương Mại, GS. Nguyễn Bách Khoa, TS. Cao Tuấn Khanh, Nhà xuất bản Thống kê năm 2011) 2.2 Khái niệm truyền thông Marketing Xét trên góc độ thương mại có thể tồn tại rất nhiều những hoạt động Marketing được tập trung xung quanh vấn đề truyền thông và trong nhiều tình thế hiệu lực của hoạt động này có tác dụng quyết định đến hành vi mua bán hàng hóa.
Có rất nhiều cách tiếp cận đối với khái niệm truyền thông trong kinh doanh. Như một định nghĩa về truyền thông của một giáo sư người Mỹ - Tom Cannon: “Là một quá trình thiêt lập sự Đặng Thị Hoa – K46C5 7 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phạm Thúy Hồng nhât trí, đồng cảm có tính công chúng hoặc cá nhân về một tư duy giữa người gửi và người nhận” Các lý luận của các nước tư bản phát triển khi định nghĩa về truyền thông chủ yếu tập trung vào hiệu lực thương mại của nó.Như vậy truyền thông được quan niệm là “một hình thái quan hệ xác định giữa người bán và người mua, là một lĩnh vực hoạt động được định hướng vào việc chào hàng với mục đích bán hàng một cách năng động và có hiệu quả nhất.” Các giả của các nước Đông Âu gắn liền việc truyền thông kinh doanh khi kết hợp lợi ích của công ty với lợi ích của toàn xã hội, do vậy truyền thông được hiểu là “một hoạt động có chủ định có liên quan đến việc mở rộng tư duy về hàng hóa và dịch vụ nhằm mục đích xúc tiến và thực hiện việc mua bán hàng hóa trên thị trường”. Xuất phát từ góc độ thương mại và bản chất của Marketing thương mại, có thể định nghĩa về truyền thông Marketing như sau: “Truyền thông Marketing là một lĩnh vực hoạt động Marketing chuyên biệt và có chủ đích hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác lập một mối quan hệ đồng thuận nhất giữa công ty và bạn hàng của nó với tâp khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm phối thuộc triển khai năng động chiến lược và chương trình marketing-mix đã lựa chọn của công ty. (Nguồn: Giáo trình Marketing thương mại, trường đại học Thương Mại, GS.
Nguyễn Bách Khoa, TS. Cao Tuấn Khanh, năm 2011) 2.1Bản chất của quá trình truyền thông Marketing Hoạt động truyền thông là công cụ quan trọng, là vấn đề cốt lõi của bất kỳ tổ chức nào để thực hiện chiến lược và chương trình Marketing. Truyền thông Marketing làm cho bán hàng dễ dàng và năng động hơn, đưa hàng vào kênh phân phối và quyết định lập các kênh phân phối hợp lý. Do vậy, truyền thông Marketing không phải chỉ là những chính sách hỗ trợ cho các chính sách sản phẩm, giá và phân phối mà còn làm tăng cường kết quả thực hiện các chính sách đó.
Truyền thông Marketing có thực chất là truyền thông giá trị để hợp tác cùng quá trình cung ứng gía trị, sáng tạo và làm thích ứng giá trị thành một chuỗi cung ứng giá trị cho khách hàng mục tiêu của công ty. Điều đó có nghĩa truyền thông Marketing là một phần của chào hàng thị trường và kênh marketing. Đặng Thị Hoa – K46C5 8 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phạm Thúy Hồng Một công tin dung điều hành một hệ thống truyền thông marketing phức hợp. Công ty truyền thông tới các trung gian chức năng, người tiêu thụ và những công chúng khác nhau của mình.
Các trung gian chức năng của công ty lại truyền với nhau và với các công chúng khác, đồng thời mỗi nhóm lại truyền thông phản hồi tới các nhóm khác.2Vai trò của truyền thông Marketing trong kinh doanh hiện đại Truyền thông marketing là một thành tố quan trọng có vai trò hỗ trợ đắc lực cho các chiến lược marketing-mix khác. Các chiến thuật và chiến lược marketing khác được xây dựng hoàn hảo sẽ bớt cho việc giảm bớt hoạt động truyền thông. Tuy nhiên có rất ít các dịch vụ, chủ yếu là các dịch vụ được cung cấp trong môi trương cạnh tranh lại có thể bỏ qua được vai trò của truyền thông marketing. Hơn nữa ngày nay chu kỳ sống của sản phẩm càng ngày càng ngắn, cho nên quan điểm “hữu xạ tự nhiên hương” không còn phù hợp nữa.
Thông qua chiến lược truyền thông marketing, doanh nghiệp thông tin cho khách hàng tiềm năng biết được những lợi thế, công dụng, giá trị , lợi ích của sản phẩm mang lại cho người tiêu dùng. Do vậy, chiến lược truyền thông marketing giúp doanh nghiệp tăng doanh số các sản phẩm hiện tại, tạo ra sự nhận biết và ưa thích của khách hàng đối với sản phẩm mới, và xây dựng một hình ảnh tốt đẹp về doan nghiệp. Tuy nhiên doanh nghiệp cần phải kết hợp chiến lược truyền thông với các thành tố khác của marketing hỗn hợp để Đặng Thị Hoa – K46C5 9 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phạm Thúy Hồng tạo ra hiệu quả tổng hợp. Truyền thông cũng giúp cho doanh nghiệp quảng bá thương hiệu.
Đặc biệt trong các trường hợp cầu âm, cầu bằng không hay cầu đối với những hàng hóa độc hại như thuốc lá, rượu bia, ma túy…thì vai trò của truyền thông đặc biệt quan trọng. (Nguồn: Bài giảng Truyền thông Marketing của TS. Nguyễn Thượng Thái – Học viện công nghệ Bưu chinh viễn thông) 2.2 Một số lý thuyết về chương trình truyền thông Marketing 2.1 Quan niệm chương trình truyền thông Marketing là chương trình hoạt động của các công cụ Chương trình truyền thông Marketing hoạt động dựa trên việc thực hiện các công cụ truyền thông. Sự hoạt động của các công cụ truyền thông này sẽ tạo nên các chương trình truyền thông Marketing.
Quảng cáo Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả tiền để thực hiện việc giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin. Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán. Xúc tiến bán Xúc tiến bán là những biện pháp thúc đẩy tức thời ngắn hạn để khuyến khích việc mua sản phẩm và dịch vụ. Quan hệ công chúng (PR) PR (viết tắt của Public Relations - Quan hệ công chúng) có thể hiểu là những nỗ lực một cách có kế hoạch, tổ chức của một cá nhân hoặc tập thể nhằm thiết lập và duy trì, phát triển những mối quan hệ có lợi với đông đảo công chúng của nó.
Cơ sở chủ yếu của hoạt động PR là cung cấp thông tin cho công chúng, xây dựng thông tin hai chiều giữa công chúng và tổ chức, cá nhân, tạo nên sự hiểu biết và Đặng Thị Hoa – K46C5 10 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phạm Thúy Hồng ủng hộ của công chúng. Hoạt động PR gắn bó chặt chẽ với các phương tiện truyền thông đại chúng. Quan hệ công chúng không giống với quảng cáo qua các phương tiện truyền thông, nhiệm vụ của các công ty PR là tạo cho khách hàng một hình ảnh tốt nhất khi truyền tới công chúng. Điểm mấu chốt là làm cho mọi người nói về mình.
Mục tiêu của quan hệ công chúng là khuếch trương hình ảnh sản phẩm, tạo hình ảnh của doanh nghiệp và ngăn chặn các sự kiện, thông tin bất lợi về doanh nghiệp. Bán hàng trực tiếp (bán hàng cá nhân) Bán hàng trực tiếp hay còn gọi là bán hàng cá nhân là việc bán hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp nhất: từ tay người bán đến tay người mua mà không qua một địa điểm bán lẻ cố định nào. Các loại hàng hóa dịch vụ được tiếp thị tới người tiêu dùng bởi đội ngũ những người bán hàng độc lập. Tùy thuộc vào mỗi công ty mà người bán hàng được gọi là phân phối viên, đại diện, tư vấn viên hoặc có các tên gọi khác.
Các sản phẩm được bán thông qua các buổi giới thiệu, chia sẻ, thuyết trình tại nhà hoặc các buổi họp mặt, và được bán trực tiếp từ những người bán hàng này. Marketing trực tiếp Marketing trực tiếp là một hệ thống tương tác của Marketing có sử dụng một hay nhiều phương tiện quảng cáo để tác động đến một phản ứng đáp lại đo lường được hay đạt được việc giao dịch tại một điểm bất kỳ nào đó.