CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING 1.1 TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING 1.1 Truyền thông marketing Truyền thông marketing là phương thức truyền thông qua đó công ty thông báo, thuyết phục và nhắc nhở người tiêu dùng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp về thương hiệu mà họ bán. Phối thức truyền thông marketing hay phối thức truyền thông cổ động (promotion mix) bao gồm sự kết hợp giữa các công cụ quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân và marketing trực tiếp mà công ty sử dụng để theo đuổi các mục tiêu marketing [2, tr.415] Chức năng của truyền thông: - Truyền thông: thông tin, thuyết phục, nhắc nhở - Kích thích tiêu thụ, gia tăng giá trị - Thiết lập quan hệ, liên kết 1.2 Truyền thông marketing tích hợp a. Khái niệm truyền thông marketing tích hợp Nhằm tránh sự mâu thuẫn của các thông điệp từ các công cụ truyền thông làm ảnh huởng đến hình ảnh doanh nghiệp và định vị nhãn hiệu sản phẩm, các nhà Marketing hiện đại ngày nay ngày càng quan tâm và tiếp nhận khái niệm truyền thông Marketing tích hợp (IMC - Integrated Marketing Communication). Khái niệm IMC được sử dụng nhiều nhất do Hiệp hội các hãng quảng cáo Mỹ (AAA) thông qua năm 1991, theo đó IMC là “Một khái niệm về hoạch định truyền thông marketing nhằm nhận biết giá trị gia tăng của một kế hoạch đánh giá vai trò chiến lược của các phương thức truyền thông khác nhau: quảng cáo, marketing trực tiếp, khuyến mãi bán và quan hệ công 7 chúng, và kết hợp các công cụ để đem lại tác động truyền thông rõ ràng, nhất quán và mạnh mẽ [4, tr.
Tuy nhiên, khái niệm IMC của AAA mới chỉ nhìn nhận các công cụ truyền thông theo một góc nhìn hẹp: chỉ cần một cách thức gắn kết các yếu tố truyền thông cổ động để làm sao cuối cùng có được một phát ngôn đồng nhất. Đây là cách nhìn quản trị chiến lược từ trong ra ngoài Sau đó Ducan và Moriarty cũng đã chia sẽ quan điểm của mình “IMC là một quá trình quản lý quan hệ khách hàng, từ đó tạo ra giá trị thương hiệu. Đặc biệt hơn, đây là một quá trình phối hợp đa chức năng để tạo ra và nuôi dưỡng các mối quan hệ có lợi với khách hàng và các cổ đông, thông qua chiến lược kiểm soát và gây ảnh hưởng đến tất cả các thông điệp gửi cho các nhóm này và khuyến khích việc thu thập dữ liệu cũng như các cuộc đối thoại với họ” [23, tr. Mô hình IMC của Duncan nhấn mạnh việc lấy khách hàng làm trung tâm hoạt động, cụ thể như sau: - Quá trình phối hợp đa chức năng tức là tất cả các bộ phận phòng ban của công ty và các hãng bên ngoài phải làm việc cùng nhau trong các giai đoạn hoạch định và giám sát quan hệ thương hiệu.
Việc tạo ra và nuôi dưỡng mối quan hệ với cổ đông sẽ thu hút khách hàng mới và sau đó họ sẽ tương tác với doanh nghiệp để tìm cách thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của họ. - Ý tưởng về quan hệ khách hàng sinh lợi là rất quan trọng vì không phải tất cả các quan hệ đều có giá trị như nhau đối với công ty. - Chiến lược kiểm tra hay gây ảnh hưởng đến tất cả các thông điệp cho thấy đầy đủ các khía cạnh của marketing mix. - Khuyến khích đối thoại giúp xác định khách hàng muốn có cơ hội để tương tác cùng công ty.
Khái niệm trên đã cho thấy IMC là một quá trình đang diễn ra liên tục, có 8 tính tương tác và phối hợp đa chức năng của việc hoạch định thực hiện và đánh giá truyền thông thương hiệu trong đó tích hợp tất cả các thành phần tham gia vào quá trình trao đổi nhằm đạt được sự thỏa mãn tối đa nhu cầu và mong muốn của các thành viên. IMC được xem như một quá trình vận động liên tục thay vì một đường thẳng tuyến tính nhằm mục đích tạo ra giá trị thương hiệu xét theo doanh thu bán hàng, lợi nhuận hay tài sản thương hiệu. Quá trình này bắt đầu hay kết thúc liên quan đến việc thu hút, giữ chân và phát triển khách hàng. Khái niệm này của Duncan nhấn mạnh vào quan điểm quản trị trong truyền thông marketing hơn là quá trình trộn lẫn các phòng ban bộ phận truyền thống lại với nhau, sử dụng cùng một cách các kiến thức và kỹ thuật của chuyên gia và không chuyên gia.
Tóm lại, IMC là một khái niệm công nhận giá trị gia tăng nhờ vào một chương trình kết hợp các công cụ chiêu thị khác nhau với mục đích cung cấp thông tin rõ ràng, nhất quán và đạt hiệu quả cao nhất. Với khái niệm IMC này thì công ty phải tích hợp một cách cẩn trọng nhiều kênh truyền thông nhằm chuyển tải các thông điệp rõ ràng, thống nhất về tổ chức và các sản phẩm của mình. Như vậy, việc áp dụng triết lý IMC sẽ đem lại những kết quả sau đây cho một doanh nghiệp: - Hình ảnh thống nhất: Một giọng nói, một hình thức - tất cả các quảng cáo và phát hành của công ty phải giới thiệu một hình ảnh hay nét đặc trưng của thương hiệu một cách thống nhất. - Phát ngôn đồng nhất: thông điệp đồng nhất cho tất cả các cổ đông, bao gồm cả người tiêu dùng, nhân viên, nhà phân phối lẻ, nhà cung cấp, vv… để tất cả những người tham gia vàoquá trình IMC phải có chung một niềm tin vào thương hiệu.
9 - Biết lắng nghe: thông qua truyền thông hai chiều, công ty và các cổ đông của họ phải liên kết chặt chẽ với những người khác. Các cơ sở dữ liệu sẽ giúp công ty giữ liên lạc với khách hàng và cổ đông của họ. - Ý thức xã hội, cộng đồng: ở mức độ tích hợp, doanh nghiệp còn phải thể hiện ý thức xã hội và môi trường trong các hoạt động truyền thông. Ngoài ra, một văn hoá doanh nghiệp mạnh sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp với các cổ đông mà còn thành lập các mối quan hệ cộng đồng rộng hơn.
Vai trò của IMC và lý do IMC ngày càng tăng: Vai trò của truyền thông marketing tích hợp được thể hiện như sau: - Là công cụ thực hiện chức năng truyền thông, đáp ứng nhu cầu khách hàng - Phối hợp với các công cụ khác trong marketing-mix để đạt được mục tiêu marketing - Là công cụ cạnh tranh trong kinh doanh, gia tăng giá trị sản phẩm, thông tin, xây dựng nhận thức về sản phẩm, nâng cao uy tín thương hiệu, duy trì niềm tin thái độ tốt đẹp ở công chúng về công ty.1 chỉ rõ tiến trình marketing bắt đầu bằng phân tích môi trường, phân tích cơ hội và cạnh tranh. Quá trình này sẽ cung cấp thông tin cho nhà quản trị phát triển các chiến lược marketing như đưa ra các quyết định về sản phẩm, giá, phân phối và truyền thông. Trong đó, truyền thông marketing tích hợp chính là yếu tố kết nối các yếu tố còn lại của marketing hỗn hợp nhằm tạo nên tác động tối ưu nhất. Vai trò của IMC trong tiến trình marketing (Nguồn: Belch & Belch, 2003) IMC có thể: · Thông tin về lợi thế sản phẩm.
· Thiết lập sự nhận thức và thái độ thuận lợi đối với sản phẩm, công ty. · Tạo sự ưa thích nhãn hiệu. · Tăng số lượng bán hiện tại. · Củng cố hoạt động phân phối tại điểm bán lẻ.
· Đạt sự hợp tác từ các trung gian và lực lượng bán hàng. · Động viên lực lượng bán hàng. · Xây dựng hình ảnh tốt về công ty. Nhưng IMC không thể: · Thuyết phục người tiêu dùng mua sản phẩm không phù hợp với nhu cầu.
· Làm cho khách hàng mua sản phẩm với mức giá cao hơn. · Thuyết phục khách hàng tìm mua sản phẩm trong khi nó đang phân phối hạn chế 11 Truyền thông marketing tích hợp được xem như là một sự phát triển marketing đáng ghi nhận nhất trong thập kỷ 90. Tầm quan trọng của IMC ngày càng được gia tăng xuất phát từ một số lý do cơ bản sau: - Sự phối hợp có tính chiến lược của các chức năng truyền thông khác nhau ngày càng có giá trị hơn là để chúng hoạt động riêng lẻ, tự động. - Sự phát triển IMC phản ánh sự điều chỉnh của nhà marketing đối với sự thay đổi của môi trường: sự thay đổi hành vi người tiêu dùng (nhân khẩu, lối sống, cách sử dụng phương tiện truyền thông), về kỹ thuật và phương tiện truyền thông (phát triển tivi cáp, internet…) - Sự thay đổi của IMC còn chịu sự ảnh hưởng bởi sự thay đổi cách thức marketing sản phẩm, dịch vụ như: + Công ty thay đổi ngân sách marketing từ chi cho quảng cáo sang các hình thức khác, họ cho rằng cách thức quảng cáo truyền thống tốn kém và không hiệu quả.
+ Chia nhỏ thị trường các phương tiện quảng cáo làm cho người tiêu dùng ít quan tâm đến phương tiện quảng cáo đại chúng, mà quan tâm đến các phương tiện nhỏ hơn. + Có sự dịch chuyển sức mua từ người sản xuất sang người bán lẻ. Do thế mạnh trong lĩnh vực bán lẻ, các nhà bán lẻ khu vực, vùng và quốc tế đang thay thế dần các nhà bản lẻ địa phương. Họ dùng sức ảnh hưởng của mình để được các khoản giảm giá, khuyến mại từ nhà sản xuất.
+ Sự phát triển của hệ thống dữ liệu, thông tin marketing. Nhiều công ty đã xây dựng cơ sở dữ liệu về hồ sơ nhân khẩu, tâm lý của khách hàng. Họ sử dụng thông tin này nhắm đến khách hàng mục tiêu thông qua phương pháp marketing trực tiếp như telemarketing, quảng cáo đáp ứng trực tiếp hơn là các quảng cáo đại chúng. 12 + Sự thay đổi trong việc mua các phương tiện truyền thông.
Nhiều công ty chuyển sang mua phương tiện quảng cáo trong nhà (tivi, radio, báo) hoặc các phương tiện độc lập, điều này làm cho nhu cầu mua phương tiện quảng cáo từ các đại lý quảng cáo giảm đi và hoa hồng của đại lý trở nên thấp dần. + Sự thay đổi marketing đang ảnh hưởng đến yếu tố trong quá trình marketing và truyền thông. Các công ty đã nhận thức họ phải thay đổi cách thức mà họ đang thực hiện để cổ động sản phẩm. Không thể cứ ràng buộc mãi với cách quảng cáo truyền thống.
Họ phải sử dụng bất cứ hình thức tiếp xúc nào họ cho là cách thức tốt nhất chuyển tải thông điệp đến khách hàng mục tiêu. Quá trình truyền thông - Khái niệm: Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, sự trao đổi ý tưởng nhằm thiết lập sự thông hiểu giữa người gửi và người nhận.