CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu như: mua sắm nhà cửa, các phương tiện đi lại, trang thiết bị và các nhu cầu chi tiêu cho y tế, giáo dục,v.v… nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của các cá nhân, gia đình. Ngân hàng sẽ chuyển cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng gía trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định, với những điều kiện mà hai bên đã thảo thuận (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả) nhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một mức sống cao hơn.
Phân loại cho vay tiêu dùng Có nhiều cách phân loại cho vay tiêu dùng, nhưng chủ yếu tập trung vào 6 cách như sau: 1. Theo mục đích vay Cho vay tiêu dùng được phân loại thành cho vay tiêu dùng cư chú và phi cư trú: CVTD cư trú: CVTD cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của KH là cá nhân hoặc hộ gia đình. CVTD phi cư trú: CVTD phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua săm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch,v. Theo phương thức hoàn trả Một là, CVTD trả góp đây là hình thức cho vay trong đó người đi vay trả nợ (gồm cả tiền gốc và lãi) cho NH nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay.
Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị Luan van lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Hai là, CVTD phi trả góp. Theo phương thức này tiền vay được KH thanh toán cho NH chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản CVTD phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
Ba là, CVTD tuần hoàn là các khoản CVTD trong đó NH cho KH sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương pháp này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, KH được NH cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. Theo nguồn gốc của khoản nợ Một là, CVTD gián tiếp: CVTD gián tiếp là hình thức cho vay trong đó NH mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho NTD. Hai là, CVTD trực tiếp: Là các khoản CVTD trong đó NH trực tiếp tiếp xúc và cho KH vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người nay.
Theo hình thức đảm bảo tiền vay Một là, CVTD đảm bảo tiền vay bằng tài sản: khi có nhu cầu vay vốn NH, KH có thể dùng tài sản là nhà đất, ô tô, hay các phương tiện máy móc được NH chấp nhận, hoặc dùng uy tín của cá nhân, tổ chức để bảo lãnh cho việc vay vốn đó. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để NH có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Hai là, CVTD không có bảo đảm tiền vay bằng tài sản: trong trường hợp này KH được vay vốn dựa trên quy mô hoạt động lớn, năng lực tài chính tốt, tư cách cá nhân trong sạch mà không cần sử dụng đến TSĐB khi NH cấp tín dụng. Theo thời hạn cho vay Một là, CVTD ngắn hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân hoặc để bổ sung vào tài sản lưu động của các doanh nghiệp bởi vì tài sản lưu động Luan van thường có vòng quay trên 1 vòng thấp hơn 1 năm.
Do vậy, trong một năm doanh nghiệp có thể hoàn trả được số tiền vay ở NH. Hai là, CVTD trung hạn: là hình thức cấp tín dụng từ 1 năm đến 5 năm. Hình thức cho vay này được sử dụng chủ yếu để đầu tư sửa chữa, đổi mới thiết bị, phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải…. các trang thiết bị nhanh hao mòn hay xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh từ 1 năm đến 5 năm.
Ba là, CVTD dài hạn: là hình thức cấp tín dụng trên 5 năm. Mục đích của hình thức cho vay này nhằm đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị công nghiệp nặng, xây dựng cầu đường,v. những công trình lớn, thu hồi vốn lâu từ 5 năm đến 10 năm có khi lên đến 20 năm. Phân loại các khoản vay theo thời hạn có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM.
Nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến tính an toàn và sinh lợi của một NHTM. Theo phương thức CVTD Một là, cho vay từng lần: là hình thức cấp tín dụng cho KH khi khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo đúng quy định của NH. Vay bao nhiêu lần thì KH lập hồ sơ bấy nhiêu lần. Hai là, cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương thức cấp tín dụng của NH cho KH vay theo quy định mức tín dụng đã thỏa thuận trước giữa NH và KH.
Phương thức cho vay này NH thường áp dụng với những khoản chi thường xuyên của các tổ chức kinh doanh để chi cho các khoản chi phí thường xuyên. Ba là, cho vay thấu chi: là phương thức cấp tín dụng của NH cho KH trên tài khoản thanh toán. KH được phép chi vượt số dư trên tài khoản thanh toán trong một thời gian nhất định với số tiền thấu chi có giới hạn với sự thỏa thuận trước giữa NH và KH. Đặc điểm cho vay tiêu dùng Luan van Một là: Quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn.
Các KH khi tìm đến NH với mục đích vay tiêu dùng thường có nhu cầu vồn không cao vì nhu cầu của NTD đối với các loại hàng hóa xa xỉ là không cao hoặc đã có tích lũy từ trước đối với những tài sản có giá trị lớn. Mặt khác, do CVTD có độ rủi ro cao hơn nên NH cũng thường thận trọng việc quyết định số tiền vay căn cứ vào khả năng trả nợ và TSĐB của KH. Song nếu xét về quy mô thì nhu cầu vay tiêu dùng là khá lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng. Khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay NH để cải thiện và nâng cao mức sống.
Do đó, nền kinh tế càng phát triển, số lượng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều. Hai là: Các khoản vay tiêu dùng có lãi suất cao ít được điều chỉnh. Không như hầu hết các khoản vay kinh doanh, lãi suất có thể thay đổi tùy theo điều kiện thị trường, các khoản vay tiêu dùng thường có lãi suất cố định, đặc biệt là trong CVTD trả góp. Ngay khi quan hệ tín dụng được xác lập thì mức lãi suất đã được ấn định và duy trì trong suốt thời hạn vay.
Mặt khác, khi vay tiền NTD thường không quan tâm nhiều đến lãi suất mà họ chỉ quan tâm tới khoản tiền phải trả hàng kỳ, thời gian giải ngân và khả năng trả nợ của mình bởi vì NTD thường coi vay mượn là công cụ để đạt được một cuộc sống thoải mái hơn chứ không phải là một lựa chọn dùng trong tình trạng khẩn cấp hoặc để tạo ra lợi nhuận. Ngoài ra, do quy mô của từng khoản vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất CVTD thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay khác trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Ba là: Các khoản CVTD thường có độ rủi ro cao. Vì đối tượng của hoạt động CVTD là các cá nhân, hộ gia đình nên hoạt động này không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan của NTD mà còn chịu tác động từ các yếu tố khách quan từ bên ngoài.
Ta có thể thấy một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là: Luan van + Thông tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình thường khó đầy đủ và rõ ràng như thông tin về doanh nghiệp (công khai thông qua báo cáo tài chính), dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân xứng. Các cá nhân có thể tìm cách trốn tránh không trả các khoản vay cho dù có khả năng thanh toán; + Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của người vay. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khỏe, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng, NH sẽ gặp khó khăn trong thu hồi nợ. Đây là rủi ro khó lường trước, khác với món vay kinh doanh ta có thể hạn chế được thông qua nâng cao chất lượng thẩm định dự án; + CVTD có tính nhạy cảm theo chu kì kinh tế.
Khi nền kinh tế mở rộng, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay NH nhiều hơn, và khi nền kinh tế suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng thì họ sẽ hạn chế vay mượn NH. Bốn là: Các khoản CVTD có chi phí trên một đồng vốn vay khá lớn. Do số lượng món vay tiêu dùng nhiều, KH đông và đa dạng nhưng số lượng mỗi khoản vay lại nhỏ, NH phải huy động nhiều nhân lực cho hoạt động cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối với KH sau khi cho vay. Mặt khác, NH cũng gặp không ít khó khăn để quản lý các khoản vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn hơn do đối với KHCN, thông tin về tình hình tài chính thường không công khai minh bạch như ở các công ty lớn.