Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm phát triển bền vững 1. Phát triển Phát triển được định nghĩa là “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới”. Triết học siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng.
Triết học duy vật biện chứng cho rằng phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn (Học viện Chính trị Hành chính, 2012). Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến phát triển dưới các góc độ khác nhau của nhiều tác giả như: Lưu Đức Hải (2001), Vũ Thị Ngọc Phùng (2006), Trần Thị Nhung và Võ Dao Chi (2013), … Qua thời gian, khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất: “Phát triển được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội, đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn. Phát triển được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội”.
Phát triển bền vững Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù riêng về kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa. để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội 6 công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội. phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: Kinh tế - Xã hội - Môi trường. Mô hình phát triển bền vững được cụ thể hóa trên hình 1.
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Hình 1. Mô hình phát triển bền vững Kinh tế bền vững: Phát triển nguồn lực; Tăng quy mô SX; Chuyển dịch cơ cấu kết quả và hiệu quả. Xã hội bền vững: Lao động, việc làm; Xóa đói giảm nghèo; Bình đẳng giới. Môi trường bền vững: Khai thác hợp lý; Không gây ô nhiễm; Tránh tác động tiêu cực.
Khái niệm phát triển trồng dâu, nuôi tằm bền vững 1. Đặc điểm của cây dâu, con tằm * Đặc điểm của cây dâu: Cây dâu (Morus alba L.) thuộc họ Moraceace là một loài cây thân gỗ lâu năm có nguồn gốc từ Ấn Độ hoặc Trung Quốc. Dâu trồng một lần có thể cho thu hoạch nhiều lần trong năm và trong nhiều năm. Cây dâu sau khi trồng khoảng 6 tháng sẽ cho thu hoạch lá để nuôi tằm.
Trong suốt thời kỳ kinh doanh, cây dâu có thể cho thu hoạch lá từ 8 - 10 lứa hái/năm, năng suất có thể đạt từ 10 - 35 tấn lá/ha/năm và cho thu hoạch trong nhiều năm. 7 Cây dâu có thể sinh trưởng tốt ở đất bãi ven sông và bãi cát ven biển, trên các vùng đồi núi. Dâu có thể trồng bằng hom cành hay bằng hạt đều sinh trưởng tốt. Cũng như các cây trồng khác, giống dâu có vị trí rất quan trọng, ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng lá.
Ở nước ta có trên 160 giống dâu bao gồm các giống dâu địa phương, giống dâu mới lai tạo và giống dâu nhập nội. * Đặc điểm của con tằm Theo Đỗ Thị Châm (1995), tằm dâu thuộc lớp côn trùng, có tên khoa học là Bombyx mori L., thức ăn duy nhất là lá cây dâu, nó vừa cung cấp dinh dưỡng, vừa cung cấp nước cho tằm. Phân theo tính hệ thì tằm dâu có hai loại chính là tằm lưỡng hệ và tằm đa hệ. Tằm đa hệ không ngủ đông, nên trong điều kiện tự nhiên một năm có thể nuôi được nhiều lứa.
Giống tằm đa hệ kén vàng năng suất chất lượng thấp, nhưng rất khỏe phù hợp với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm ở nước ta. Tằm lưỡng hệ là giống tằm ngủ đông nên trong điều kiện tự nhiên một năm chúng chỉ nở hai lần, thời gian còn lại bảo quản trứng trong kho lạnh. Tằm lưỡng hệ có kén màu trắng cho năng suất và chất lượng tơ cao hơn so với tằm đa hệ nhưng đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao và thời tiết thuận lợi. * Trồng dâu nuôi tằm là hai công đoạn sản xuất của người nông dân.
Hai công đoạn này có quan hệ mật thiết với nhau. Giai đoạn trồng dâu là giai đoạn trung gian của quá trình sản xuất dâu tằm. Người dân tổ chức sản xuất thường là một quá trình được khép kín trong các hộ sản xuất nông nghiệp. Chất lượng lá dâu có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả nuôi tằm 1.
Các nhân tố tác động đến phát triển sản xuất dâu tằm * Những yếu tố về điều kiện tự nhiên: Thời tiết, khí hậu, đất đai có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất dâu tằm. Vì vậy, muốn sản xuất đạt hiệu quả, người trồng dâu, nuôi tằm phải hiểu quy luật của tự nhiên, bố trí cơ cấu giống dâu, giống tằm hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. * Những yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội. + Dân số, lao động: Dân số lớn tạo ra nhu cầu lớn cho sản phẩm tơ, kén tằm, đồng thời cung cấp lao động cho phát triển sản xuất.
Trồng dâu nuôi tằm đòi hỏi kỹ thuật, tốn nhiều thời gian và công lao động. Quá trình sinh trưởng và phát triển của 8 con tằm trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn yêu cầu kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng khác nhau, nên người lao động phải có trình độ nhất định. + Thị trường: Thị trường tiêu thụ chịu ảnh hưởng bởi quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu.
Thị trường kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sản xuất và tiêu thụ. Nếu thị trường chấp nhận thì quy mô sản xuất sẽ được duy trì và phát triển mở rộng. Người sản xuất căn cứ vào cung - cầu của xã hội về sản phẩm hàng hoá mà mình sản xuất, từ đó định hướng cho quá trình sản xuất về quy mô, cơ cấu sản xuất, số lượng, chất lượng. sản phẩm hàng hoá phù hợp yêu cầu của thị trường.
Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm tơ tằm trong nước ngày càng tăng cao. Sự tăng trưởng nhanh về nhu cầu lụa tơ tằm trong nước do một số nguyên nhân chủ yếu: đời sống nhân dân không ngừng tăng lên, chất lượng tơ lụa được cải thiện và lượng khách nước ngoài tới Việt nam ngày càng nhiều. Với dân số hơn 90 triệu người, Việt nam sẽ trở thành một thị trường tiêu thụ tơ lụa nội địa rất lớn. + Chủ trương, chính sách: Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, quy định nhằm khuyến khích đầu tư, khai thác tốt các nguồn lực sẵn có của địa phương, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển.
Cùng với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp nói chung thì ngành sản xuất dâu tằm tơ cũng được Nhà nước ta quan tâm và tạo điều kiện để phát triển. Ở địa phương, chủ trương phát triển sản xuất dâu tằm thể hiện qua việc quy hoạch tổng thể sản xuất để khai thác lợi thế tiềm năng vùng. Với mỗi địa phương cụ thể, chính quyền có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ để thúc đẩy sản xuất phát triển. + Tập quán truyền thống: Về mặt tích cực, tác động đến sản xuất, thông qua kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình sản xuất lâu dài, các mối quan hệ trong sản xuất, nhất là quan hệ tiêu thụ sản phẩm đã được thiết lập sẵn.
Sự liên kết giữa các hộ trong sản xuất hỗ trợ nhau tạo ra một lượng sản phẩm hàng hóa đủ lớn trên thị trường. Mặt khác, tập quán sản xuất truyền thống ăn sâu vào tiềm thức là một cản trở không nhỏ tới việc phổ biến và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất. 9 * Yếu tố dịch bệnh: Là yếu tố gây thiệt hại cho sản xuất, làm tăng chi phí sản xuất, giảm khối lượng cũng như chất lượng sản phẩm sản xuất ra. Cây dâu hay con tằm đều có những loại sâu bệnh nhất định ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
Khi chăm sóc dâu không tốt, lá dâu không đảm bảo chất lượng bị sâu bệnh hay quá trình sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh không hợp lý thì khi cho tằm ăn sẽ làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của tằm. Điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng tơ kén cũng như giá trị sản phẩm. * Tổ chức sản xuất Sản xuất dâu tằm có đặc điểm là tính thủ công trong sản xuất rất cao, do yêu cầu chăm sóc rất nghiêm khắc đối với con tằm. Do đặc điểm này nên trên thế giới chỉ có một số ít trang trại nuôi tằm con tập trung, toàn bộ công việc nuôi tằm lớn do nông hộ thực hiện.
Thực tế đã chứng minh, công việc chăn tằm chỉ có hiệu quả nếu thực hiện ở quy mô hộ gia đình. Tổ chức sản xuất sẽ có hiệu quả nếu công tác tổ chức sản xuất trong từng hộ có hiệu quả và có sự phối hợp giữa các hộ với nhau để sử dụng một cách tối ưu các nguồn lực trong từng hộ. * Trình độ chuyên môn và kinh nghiệm sản xuất: Tằm là loại côn trùng máu lạnh, không điều tiết được nhiệt độ cơ thể, ở mỗi tuổi của nó lại yêu cầu các điều kiện nhiệt độ, ẩm độ khác nhau, sức sống rất yếu, dễ nhiễm bệnh. Vì vậy, người nuôi tằm cần phải có hiểu biết về những đặc điểm riêng biệt của con tằm và phải có trình độ kỹ thuật từ khâu ấp trứng đến khâu nuôi tằm, xử lý tằm lúc thức, lúc ngủ, lúc bị bệnh hại, điều chỉnh nhiệt độ và ẩm độ trong phòng nuôi.