CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1.Lý luận chung về Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội tự nguyện 1.Bảo hiểm y tế Có rất nhiều khái niệm khác nhau về BHXH tùy theo góc nhìn của các nhà nghiên cứu. Theo Giáo sư Henri Kliler của Đại học Tự do Brussels, Bỉ, "Bảo hiểm xã hội là một tập hợp các luật và quy định nhằm đảm bảo tiền lương của người lao động (và những người lao động tự do với những giới hạn nhất định) cũng như gia đình của họ (những người có luật định. quyền) được hưởng quyền lợi khi họ rơi vào tình trạng mất toàn bộ hoặc một phần thu nhập từ công việc hoặc phải chịu các chi phí cần hỗ trợ (chẳng hạn như giáo dục con cái và chăm sóc y tế) ". Trong lĩnh vực tài chính, BHXH được hiểu là “quá trình hình thành và sử dụng quỹ dự trữ tiền tệ của cộng đồng người lao động với sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm chia sẻ rủi ro và đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp cần thiết theo quy định.
theo quy định của pháp luật ”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam năm 2010, bảo hiểm xã hội được định nghĩa là “sự bù đắp hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị mất hoặc bị giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,… thất nghiệp, già yếu, tử tuất; trên cơ sở quỹ tài chính do người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cung cấp và được Nhà nước bảo vệ theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm an toàn tính mạng cho người lao động và gia đình họ, đồng thời đóng góp vào bảo hiểm xã hội. an ninh xã hội ”. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng về bản chất, BHXH là một chính sách xã hội được luật hóa, mang bản chất xã hội và tính nhân văn; đối 14 tượng tham gia là người lao động và người sử dụng lao động, đối tượng hưởng là chính người lao động và gia đình của họ; mục đích là đảm bảo đời sống vật chất cũng như tinh thần khi họ gặp bất trắc đồng thời đảm bảo an sinh xã hội.
Như vậy khái niệm về BHXH đã được thống nhất như sau: "BHXH là tổng thể các mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động. Là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp mất một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an sinh xã hội". Hiện nay, BHXH được triển khai dưới hai hình thức khác nhau là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Bảo hiểm xã hội bắt buộc: là loại hình bảo hiểm trong đó nhà nước sử dụng các công cụ hợp pháp để buộc người sử dụng lao động và người lao động đóng góp thường xuyên vào quỹ bảo hiểm xã hội để trợ cấp cho người lao động khi lâm nguy, về già.
Loại trợ cấp này mang lại sự ổn định, bảo đảm và lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác, thực hiện mục đích cơ bản của bảo hiểm xã hội. - Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Là hình thức nhà nước đưa ra các quy định của pháp luật về bảo hiểm, mọi người dân đều có thể tham gia một cách tự nguyện theo các quy định này. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện rất đa dạng, ngoài lao động tự do, nội trợ, nông dân, ngư dân. còn có người đã đóng BHXH bắt buộc nhưng cũng là người tình nguyện tham gia BHXH tự nguyện.
Mục tiêu của BHXH tự nguyện là bổ sung quyền lợi cho người có 15 nhu cầu hoặc bảo hiểm cho người lao động không có quan hệ việc làm. Với tác dụng to lớn là giảm gánh nặng tài khóa, nâng cao đời sống của các đối tượng, đảm bảo an sinh xã hội bền vững, BHXH được phát triển rộng rãi nhằm đảm bảo mọi người lao động đều có thể tham gia.Đặc biệt với hình thức bảo hiểm xã hội bắt buộc thì nhà nước đã thể hiện quyền năng của mình trong vai trò đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động khi có bất cứ rủi ro nào xảy ra.Nhà nước quy định mức đóng góp để hình thành Quỹ BHXH bắt buộc để chi trả cho người tham gia và xây dựng các chế độ mà người tham gia được hưởng (bao gồm điều kiện hưởng, mức hưởng).Dưới góc độ tiếp cận đó, có thể đưa ra khái niệm về BHXH bắt buộc như sau: “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành dưới hình thức bắt buộc, nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phảinhững biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp một phần thu nhập của người lao động, người sử dụng lao động, để đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an ninh xã hội. Bảo hiểm xã hội tự nguyện Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, trong đó người tham gia có thể lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Theo đó, việc tham gia loại hình bảo hiểm này là hoàn toàn tự nguyện, người lao động có thể lựa chọn tham gia hoặc không tham gia Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội 16 Ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội tự nguyện là một trong những chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, mang tính nhân văn sâu sắc, là loại hình dịch vụ công ích, hoạt động không vì lợi nhuận, hướng tới hiệu quả xã hội.
Đây là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức. Ngày 29/6/2006, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội. Đây là sự kiện pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách BHXH, mở rộng đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH sang khu vực lao động PCT, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người tham gia BHXH tự động. Với sự ra đời của Luật BHXH số 71/2006 / QH11, chính sách BHTN của người làm công ăn lương được quy định và thực hiện kể từ ngày 01/01/2008.
Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, toàn thể người lao động (nông dân, công nhân trong ngành PCT ) Có khả năng tham gia BHXH tự nguyện. Đây là sự kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người lao động và người dân. Sau 07 năm thực hiện (2008 - 2014), ngày 20 tháng 11 năm 2014, kỳ họp thứ 8, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014 / QH13 thay thế Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006 / QH11 để đảm bảo tính công bằng. , bình đẳng, tiếp tục mở rộng diện bao phủ BHXH, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền lợi của người tham gia.
Điều 3 nêu rõ "BHXH là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức, trong đó người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách đóng BHXH cho người tham gia. đóng góp xã hội ” hưởng chế độ hưu trí và tử tuất ”[33, tr. Nội hàm của khái niệm đã cho thấy toàn bộ nội dung để thực hiện chính sách BHXHTN cho NLĐ. Trước tiên, đối với bảo hiểm thất nghiệp, điều đầu tiên bạn thấy đó là hình thức bảo hiểm do nhà nước tổ chức và được nhà nước bảo vệ.
Nhà nước ban hành chính sách cho phép mọi người lao động không thuộc diện tham gia 17 bảo hiểm xã hội tự nguyện được tham gia loại hình bảo hiểm thất nghiệp này. Tổ chức của nhà nước đồng nghĩa với việc nhà nước sẽ quản lý và có chính sách vận động, lan tỏa để người lao động tham gia hình thức bảo hiểm thất nghiệp nhằm mục đích giúp người lao động có cuộc sống ổn định khi hết tuổi lao động, giảm bớt gánh nặng cho người lao động. nhà nước, cộng đồng và gia đình và giúp đảm bảo công bằng trong xã hội. Thứ hai, nó là một loại hình bảo hiểm thất nghiệp nên quyền quyết định tham gia hay không của người lao động là do người lao động tự quyết định.
Nhà nước không bắt buộc người lao động tham gia, nhà nước chỉ khuyến khích, vận động người lao động tham gia nhằm phục vụ lợi ích của họ và của gia đình. Thứ ba, khi tham gia BHXH tự nguyện, người lao động được quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng theo thu nhập, bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng, đóng cao, đóng thấp. Thứ tư, khi tham gia BHXH tự nguyệnTN thì người tham gia còn được sự hỗ trợ của Nhà nước, người tham gia BHXH tự nguyệnTN chỉ cần đóng phần trách nhiệm đóng của mình. Đây là chính sách rất nhân văn của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ năm, khác với BHXHTN, BHXHTN chỉ được hưởng chế độ cơ bản đó là hưu trí và tử tuất. Nhà nước chỉ thực hiện 2 chế độ dài hạn này đối với NLĐ tham gia BHXH tự nguyệnTN. Các chỉ tiêu đo lường phát triển Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội tự nguyện 1.