Chương 1. Một số vấn đề lý luận về dịch vụ xã hội cơ bản và pháp luật an sinh xã hội về dịch vụ xã hội cơ bản. Thực trạng pháp luật an sinh xã hội về các dịch vụ xã hội cơ bản ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật an sinh xã hội về các dịch vụ xã hội cơ bản.
8 PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu vấn đề lý luận về dịch vụ xã hội cơ bản và pháp luật an sinh xã hội về dịch vụ xã hội cơ bản 1. Tình hình nghiên cứu một số vấn đề lý luận về dịch vụ xã hội cơ bản Nghiên cứu về khái niệm an sinh xã hội và khái niệm dịch vụ xã hội cơ bản trong hệ thống an sinh xã hội Khái niệm ASXH được một số công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài đề cập đến.
Đó là: Sách “Thuật ngữ ASXH” (2011) của Viện Khoa học và Lao động xã hội (ILSSA) phối hợp với Dự án hỗ trợ giảm nghèo ở Việt Nam, do Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Cộng hòa Liên bang Đức (GIZ) thực hiện dưới sự ủy quyền của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Đức (BMZ). Cuốn sách đưa ra gần 200 thuật ngữ về ASXH và khái quát về mối liên hệ giữa các trụ cột chính của hệ thống ASXH. Trong đó, một số khái niệm liên quan tới DVXHCB trong ASXH như ASXH cơ bản, sàn ASXH, dịch vụ xã hội, gói dịch vụ y tế cơ bản… Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu về ASXH nói chung và luận án nói riêng. Sách “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam” (2009) của tác giả Mai Ngọc Cường, Nxb.
Chính trị Quốc gia. Cuốn sách cung cấp cái nhìn tổng quan về ASXH từ khái niệm, cấu trúc đến nội dung. Trong đó, khái niệm ASXH được tiếp cận từ góc độ rộng đến hẹp khác nhau. Nghiên cứu “Social Security – The way Forward” (An sinh xã hội – Con đường phía trước) (2011) của tác giả R Ramakrishnan tại Hội nghị thượng đỉnh SKOCH lần thứ 25 năm 2011 đã đưa ra khái niệm ASXH.
Theo đó, ASXH hiện nay thường được hiểu là sự bảo vệ do xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội gây ra bởi việc ngừng hoặc giảm thu nhập đáng kể do ốm đau, thai sản, việc làm, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và tử vong. 9 Về cơ bản, khái niệm DVXHCB có được đề cập, phân tích trong một số công trình nghiên cứu tuy nhiên chưa có nhiều công trình nghiên cứu, phân tích sâu mà chủ yếu phân tích trên cơ sở khái niệm do LHQ xây dựng. Nghiên cứu cấp Bộ (2011-2012) của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ở đề tài nhánh 3 “Đánh giá thực trạng khả năng và cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội của nhóm người nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là tại các vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số” đã tiếp cận khái niệm DVXHCB từ khái niệm DVXH. Theo tài liệu này,“Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các thành viên trong xã hội để nâng cao năng lực có việc làm và khả năng hội nhập xã hội nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội được thừa nhận”.
Tuy nhiên, khái niệm DVXHCB đề cập trong nghiên cứu là khái niệm được trích dẫn từ khái niệm do LHQ xây dựng. Theo đó, DVXHCB là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, bao gồm giáo dục cơ bản; y tế cơ bản; dân số và kế hoạch hóa gia đình; các dịch vụ xã hội liên quan đến cứu trợ thiên tai; nước sạch và vệ sinh. Như vậy, nghiên cứu này mới dừng lại ở việc trích dẫn khái niệm DVXHCB của LHQ mà chưa đưa ra được quan điểm riêng về DVXHCB cũng như lý giải cơ sở xác định phạm vi các dịch vụ xã hội cơ bản. Chương trình nghiên cứu cấp Bộ 2011-2012 “Nghiên cứu giải pháp mở rộng ASXH đồng bộ với chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến 2020”, đề tài nhánh 3 “Đánh giá thực trạng khả năng và cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội của nhóm người nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là tại các vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số” của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, do PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc chủ nhiệm đề tài, mã số: CT 2011-02-03.
Trong công trình này, một trong các nội dung được nhóm tác giả nghiên cứu là cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu khả năng tiếp cận DVXHCB của người nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong 10 đó làm rõ khái niệm DVXH, DVXHCB và những đặc thù khác biệt của vùng dân tộc thiểu số, vùng núi. Nghiên cứu “Universal Basic Services: a theoretical and moral framework” (Các dịch vụ cơ bản phổ cập: khung lý thuyết và đạo đức) năm 2019 của tác giả Lan Gough đã xây dựng khái niệm dịch vụ cơ bản phổ quát. Theo đó, dịch vụ có nghĩa là tập hợp các hoạt động phục vụ lợi ích công cộng.
Cơ bản nghĩa là cần thiết và đủ chứ không phải tối thiểu, làm cho con người thịnh vượng và tham gia vào xã hội. Phổ quát có nghĩa là mọi người đều được hưởng các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của họ, bất kể khả năng chi trả. Ngoài dịch vụ y tế và giáo dục công, các dịch vụ khác được đề xuất thêm vào mô hình dịch vụ cơ bản phổ quát như nơi cư trú, dinh dưỡng, giao thông và thông tin. Báo cáo của Viện Thịnh Vượng Toàn cầu “Universal basic services: theory and practice” (Các dịch vụ cơ bản phổ cập: lý thuyết và thực hành) năm 2019 do Anna Coote, Pritika Kasliwal and Andrew Percy thực hiện đã nêu và phân tích một số vai trò của dịch vụ công và dịch vụ cơ bản phổ quát.
Theo các tác giả, dịch vụ công giảm bớt sự bất bình đẳng về thu nhập bằng cách cung cấp "mức lương xã hội" đáng giá cho những người thuộc nhóm thu nhập thấp nhất. Dịch vụ cơ bản phổ quát còn có vai trò tăng cường sự đoàn kết bởi nó kêu gọi thực hành chính sách tập thể bằng cách chia sẻ nguồn lực và cùng nhau hành động để đối phó với rủi ro và vấn đề con người không thể đối phó một mình. Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra vai trò của dịch vụ giáo dục cơ bản, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ giao thông công cộng, các tiện ích gia đình như điện, nước, điện thoại, nước thải, năng lượng. Sổ tay hướng dẫn “Social Protection Floor Initiative” (Sáng kiến sàn bảo trợ xã hội) năm 2009 của nhóm các cơ quan hợp tác và đối tác phát triển, Văn phòng Lao động Quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới là sáng kiến thứ sáu của CEB (Trưởng ban điều hành hệ thống LHQ về điều phối) đã gián tiếp đưa ra định nghĩa DVXHCB thông qua khái niệm về “Tầng bảo trợ xã hội” và “các dịch vụ thiết 11 yếu”.
Theo đó, tầng bảo trợ xã hội là một khái niệm chính sách xã hội nhất quán và toàn cầu nhằm thúc đẩy các chiến lược mỗi quốc gia với mục tiêu bảo vệ mức độ tiếp cận tối thiểu các dịch vụ và chuyển giao thiết yếu, đảm bảo thu nhập cho mọi người trong cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính hiện nay và hơn thế nữa. Sàn bảo trợ xã hội quốc gia là một tập hợp các quyền cơ bản cho phép và trao quyền cho các thành viên trong xã hội tiếp cận mức hàng hóa và dịch vụ tối thiểu và được xã hội bảo vệ ở bất kỳ thời điểm nào. Dựa trên danh sách các dịch vụ và chuyển giao của Tuyên bố chung của LHQ thì các dịch vụ thiết yếu được hiểu là khả năng tiếp cận theo khu vực và tài chính đối với các dịch vụ thiết yếu (chẳng hạn như nước và vệ sinh, dinh dưỡng đầy đủ, y tế và giáo dục, nhà ở, và các dịch vụ bao gồm thông tin về cuộc sống và tiết kiệm tài sản). Bài viết “The Right to Health and Basic Services" (Quyền được chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ cơ bản) năm 2010 của tác giả W.
Courtland Robinson đã đưa ra định nghĩa DVXHCB dựa trên Điều lệ nhân đạo của Dự án Sphere và Tiêu chuẩn tối thiểu trong Ứng phó thiên tai là: “được tiếp cận với ít nhất các yêu cầu tối thiểu (nước, vệ sinh, thực phẩm, dinh dưỡng, nơi ở và chăm sóc sức khỏe) để đáp ứng quyền cơ bản được sống với phẩm giá”. Nếu như các công trình trên nghiên cứu về DVXHCB nói chung thì một số công trình dưới đây lại nghiên cứu về một DVXHCB cụ thể, như DVXHCB về giáo dục cơ bản hoặc DVXHCB về nước sạch, DVXHCB về TCTT …. Về dịch vụ giáo dục cơ bản, bài viết “Đừng nhầm lẫn “dịch vụ giáo dục” với “giáo dục là dịch vụ” năm 2018 của Phạm Ngọc Duy đăng trên báo Vietnamnet ngày 03/06/2018. Bài viết được tác giả nghiên cứu trong bối cảnh luật Giáo dục đang được dự thảo sửa đổi, trong đó tác giả trình bày một số kinh nghiệm quốc tế cũng như những lưu ý khi sử dụng thuật ngữ “dịch vụ giáo dục” trong luật giáo dục.
Theo tác giả, “dịch vụ giáo dục được đề cập đến trong các văn bản pháp luật quốc tế để chỉ các hoạt động giáo dục tương đối cụ thể và chính thức do các cơ sở giáo dục tổ chức và người học thụ hưởng nhằm đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện nêu trên”. 12 Liên quan đến quyền tiếp cận thông tin, sách tham khảo “Quyền tiếp cận thông tin của công dân Việt Nam” (2015) của tác giả Thái Thị Tuyết Dung, Nxb. Đại học Quốc gia, đã dành chương đầu tiên để lí giải một số vấn đề lý luận về quyền tiếp cận thông tin của công dân. Trong đó làm rõ nhiều khái niệm liên quan.
Tác giả phân tích khái niệm “thông tin” trong quyền TCTT của công dân.