Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Hồ Thị Dung có tiêu đề chính thức: "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường tỉnh Đồng Nai hiện nay", được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2024). Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 9.02), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Ngọc Thạch và PGS. Nguyễn Thị Thanh Thủy.
Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ quan điểm dân chủ là giá trị phổ biến của nhân loại và là mục tiêu phát triển của xã hội. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, phản ánh mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quán triệt phương châm "lấy dân làm gốc", coi thực hiện dân chủ là thành tố quan trọng trong mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu thể chế hóa thực hành dân chủ, thực hiện hiệu quả phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Hiến pháp năm 2013 cũng ghi nhận đầy đủ quyền con người, quyền công dân.
Tuy nhiên, tác giả chỉ ra khoảng trống thực tiễn: việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trên phạm vi cả nước thời gian qua cơ bản vẫn dựa trên kinh nghiệm thực tế, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, thiếu tính tổng thể và tính đồng bộ. Tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân tại địa bàn xã, phường vẫn còn diễn biến phức tạp. Tại tỉnh Đồng Nai – một địa bàn thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng – việc thực hiện quyền làm chủ ở cấp cơ sở bộc lộ nhiều điểm hạn chế mang tính hình thức; vai trò của ban thanh tra nhân dân chưa phát huy đầy đủ; nhận thức của một bộ phận người dân chưa toàn diện; các căn cứ pháp lý bảo đảm thực hiện phương châm dân chủ cơ sở còn thiếu đồng bộ.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường tỉnh Đồng Nai hiện nay, luận án đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân tại địa phương trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua bốn nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường hiện nay.
- Làm rõ thực trạng phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở xã, phường tỉnh Đồng Nai hiện nay.
- Đề xuất quan điểm và một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường tỉnh Đồng Nai hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về thời gian: Khảo sát và đánh giá dữ liệu từ năm 2015 đến nay.
- Về không gian: Địa bàn các xã, phường thuộc tỉnh Đồng Nai.
- Về nội dung: Luận án tập trung vào ba lĩnh vực cơ bản gồm: quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực chính trị; quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế; và quyền làm chủ của nhân dân trong đời sống văn hóa - xã hội cùng các lĩnh vực khác.
Bảng tổng hợp thông tin địa bàn khảo sát tỉnh Đồng Nai được nêu trong văn bản:
| Chỉ số / Đặc điểm |
Số liệu và nội dung ghi nhận trong văn bản |
| Vị trí địa lý |
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam |
| Diện tích tự nhiên |
5.907,2 km² (lớn thứ nhì vùng Đông Nam Bộ, sau Bình Phước) |
| Đơn vị hành chính cấp huyện |
11 đơn vị (gồm 02 thành phố và 09 huyện) |
| Đơn vị hành chính cấp xã |
170 đơn vị (gồm 40 phường, 08 thị trấn và 122 xã) |
| Dân số (năm 2019) |
Hơn 3 triệu dân (3.107 nghìn người, đông nhất Đông Nam Bộ sau TP.HCM) |
| Mật độ dân số |
516,3 người/km² |
| Cơ cấu dân cư |
Dân số thành thị chiếm 48,4%; dân số nông thôn chiếm 51,6% |
| Đặc thù kinh tế |
Là trung tâm phát triển công nghiệp lớn của vùng Đông Nam Bộ |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả Hồ Thị Dung đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài, phân định thành ba nhóm nghiên cứu chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.
Ở phạm vi quốc tế và lý thuyết chung, luận án điểm lại cuốn sách "Dân chủ" của Gioóc-giơ Mác-se (1992), phân tích nền dân chủ tư sản hiện đại và bài học từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô và Đông Âu; cuốn sách "Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại" của David Held (bản dịch tiếng Việt năm 2013), xem xét tính đa dạng của các mô hình dân chủ; cuốn "Dân chủ trực tiếp, sổ tay IDEA quốc tế" của Viện Quốc tế về Dân chủ và Hỗ trợ Bầu cử (2014), nghiên cứu các cơ chế trưng cầu ý dân, sáng kiến công dân và bãi miễn; công trình "Dân chủ và tiến bộ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội" của O. Bogomolov, phân tích mối quan hệ giữa nhà nước phúc lợi và nền tảng dân chủ; cuốn sách "Chế độ dân chủ, nhà nước và xã hội" (Nxb Tri thức, 2008), phân tích cấu trúc thể chế dân chủ đa nguyên.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu tiêu biểu gồm: cuốn sách "Dân chủ ở xã, phường, thị trấn với các quyền dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" (Nxb Chính trị quốc gia, 2003); công trình "Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn hiện nay" (2005) của Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông; bài viết "Dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội trong phát triển bền vững" (2007) của Hoàng Chí Bảo; bài viết "Đổi mới chế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên địa bàn cơ sở ở nước ta hiện nay" (2008) của Ngọ Văn Nhân; bài viết "Thực hiện dân chủ ở cơ sở và vấn đề tăng cường ý thức trách nhiệm của nhà nước" (2009) của Lê Thi; cuốn sách "Dân chủ trực tiếp ở Việt Nam lý luận và thực tiễn" (2010) của Nguyễn Văn Mạnh và Tào Thị Quyên; công trình "Dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay" (2011) của Lê Minh Quân; tác phẩm "Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (2013) của Trần Ngọc Liêu; bài viết của Mai Thị Quý và Nguyễn Thị Chinh (2013) trên Tạp chí Triết học; cuốn sách "Dân chủ, độc tài và phát triển" (2014) của Hồ Sĩ Quý; các bài viết của Đinh Ngọc Thạch và Nguyễn Thị Thanh Thủy (2014, 2016) về mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và dân chủ trực tiếp; bài viết của Phạm Văn Đức (2016) về giám sát, phản biện xã hội và phòng chống tham nhũng; cuốn sách "Việt Nam 35 năm đổi mới (1986 – 2021)" (2021); tác phẩm "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (2021) của Nguyễn Phú Trọng.
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về thực trạng phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.
Các ấn phẩm tập trung phản ánh việc triển khai quy chế dân chủ cơ sở gồm: cuốn sách "Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã – một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (2000) của Dương Xuân Ngọc; cuốn sách "Thực hiện Quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay" (2003) do Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông đồng chủ biên; cuốn "Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở" (2003) của Lương Gia Ban; công trình "Về thi hành pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007" (2014) do Nguyễn Văn Hiển chủ biên; tác phẩm "Dân chủ và dân chủ cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới" (2007) của Hoàng Chí Bảo; bài viết "Không ngừng phát huy dân chủ ở cơ sở, khơi dậy tiềm năng, sức mạnh to lớn của nhân dân" (2018) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; bài viết của Vũ Thị Hiên (2020) về tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; nghiên cứu của Vũ Trọng Lâm (2022) về thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế và kỷ cương xã hội.
Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu về giải pháp và tài liệu liên quan đến địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Nhóm này bao gồm: "Kỷ yếu tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và 5 năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Dân vận khéo" (2015) do Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Nai biên soạn; bài viết của Nguyễn Trọng Chuẩn (2015) về giải pháp thực hành dân chủ trong xây dựng nhà nước pháp quyền; luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Tiến Thành (2016) về hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở; sách chuyên khảo của Trần Văn Khuyên (2017) về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thông tri số 04-TT/TU ngày 12/4/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai; các báo cáo sơ kết, tổng kết định kỳ của Ban Chỉ đạo Quy chế dân chủ các huyện Tân Phú (năm 2018), Định Quán (năm 2017, 2018) và Nhơn Trạch (từ năm 2015 đến 2017).
Bảng tổng hợp phân loại tài liệu nghiên cứu theo văn bản luận án:
| Nhóm tài liệu |
Tác giả tiêu biểu |
Trọng tâm nội dung đã công bố |
| Nhóm lý luận chung về dân chủ |
C. Mác, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh, David Held, O. Bogomolov, Hồ Sĩ Quý, Lê Minh Quân |
Bản chất, giá trị, hình thức dân chủ (trực tiếp và đại diện), mối quan hệ giữa dân chủ và nhà nước pháp quyền |
| Nhóm thực trạng dân chủ ở cơ sở |
Dương Xuân Ngọc, Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Văn Hiển, Nguyễn Phú Trọng, Vũ Thị Hiên |
Thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, Pháp lệnh năm 2007, chỉ ra chuyển biến và các hạn chế hình thức |
| Nhóm giải pháp và dữ liệu địa phương |
Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Nai, Tỉnh ủy Đồng Nai, Nguyễn Tiến Thành, Trần Văn Khuyên |
Đánh giá báo cáo hành chính, sơ kết chỉ thị, đề xuất cơ chế pháp lý và giải pháp cho các địa phương cụ thể |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ cơ sở ở phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương riêng lẻ, song cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về thực trạng và giải pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường tỉnh Đồng Nai dưới góc độ chuyên ngành Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử). Các tài liệu hiện có tại Đồng Nai chủ yếu là báo cáo hành chính của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, mang tính chất nghiệp vụ, chưa khái quát thành hệ thống lý luận triết học chính trị. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước, pháp luật, quần chúng nhân dân và dân chủ:
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Dân chủ là một hình thái nhà nước mang tính lịch sử; nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử; chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời nhằm xóa bỏ áp bức giai cấp, đưa quyền lực thực sự về tay nhân dân. Cơ sở lý luận được kế thừa từ tác phẩm "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen" (1843), "Phê phán Cương lĩnh Gô-ta" (1875), "Nội chiến ở Pháp" (1871) của C. Mác và các luận điểm của V.I. Lênin về nhà nước chuyên chính vô sản, sự phát triển của nền dân chủ vô sản so với dân chủ tư sản, cùng các bước chuyển biến nhận thức chính trị thích ứng với thực tiễn lịch sử.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh: Luận điểm "Dân là chủ" (xác định vị thế khách quan, quyền lực tối cao thuộc về nhân dân) và "Dân làm chủ" (năng lực, trách nhiệm và hành động thực thi quyền lực của nhân dân). Tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết ba phương diện cốt lõi: Nhân dân làm chủ những gì; Tại sao nhân dân có quyền làm chủ; Làm thế nào để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Quán triệt Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (đặc biệt là Đại hội XI, XIII), các quy định hiến định trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 2013 (nhất là Điều 2 về chủ quyền nhân dân và Khoản 2 Điều 4 về sự giám sát của nhân dân đối với Đảng).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội liên ngành thuộc hướng tiếp cận định tính và phân tích văn bản thực tiễn:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng nhằm phân tích các báo cáo số liệu, biểu mẫu thống kê về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nơi khảo sát, nhận diện các nhân tố tác động đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Phương pháp này áp dụng xuyên suốt cho cả phần lý luận và phân tích thực trạng.
- Phương pháp chuyên gia: Thực hiện việc lấy ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc về lý luận và thực tiễn, bao gồm các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách và cán bộ hoạt động thực tiễn tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Áp dụng nhằm nhận diện cụ thể các lĩnh vực đã phát huy được quyền làm chủ hoặc đang nảy sinh vướng mắc, bức xúc tại các xã, phường của tỉnh Đồng Nai, từ đó khái quát bức tranh thực trạng tại cơ sở.
- Phương pháp quan sát: Sử dụng để thu thập dữ liệu về các khía cạnh biểu hiện trong đời sống sinh hoạt, cách thức giải quyết công việc, yếu tố tâm lý và tác động của văn hóa địa phương đến việc triển khai dân chủ tại cơ sở.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin; các tập văn kiện trong Hồ Chí Minh Toàn tập; các văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11); các thông tri, báo cáo tổng kết của Tỉnh ủy Đồng Nai, Ban Dân vận Tỉnh ủy và các huyện Tân Phú, Định Quán, Nhơn Trạch; cùng các niên giám, bảng biểu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn từ năm 2015 đến nay.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết (ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh mục công trình khoa học đã công bố):
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu đã công bố theo ba nhóm nội dung: nghiên cứu lý luận chung về dân chủ và quyền làm chủ; nghiên cứu thực tiễn thực hiện dân chủ cơ sở tại Việt Nam; và nghiên cứu về giải pháp cùng các tài liệu thực tế tại tỉnh Đồng Nai.
Tác giả rút ra kết luận: nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức dân chủ tiến bộ, trong đó nhân dân là chủ thể quyền lực. Tuy nhiên, việc thực thi quy chế dân chủ cơ sở tại Việt Nam nói chung và tại các địa phương còn gặp nhiều rào cản như biểu hiện hình thức, thiếu công khai minh bạch, năng lực cán bộ cơ sở hạn chế và sự tham gia của người dân chưa đồng đều. Luận án khẳng định chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập dưới góc độ triết học về phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở xã, phường tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 đến nay, xác lập tính độc lập khoa học của đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường
Chương này tập trung làm rõ nguồn gốc, bản chất của khái niệm dân chủ và quyền làm chủ:
- Nguồn gốc và lịch sử quan niệm về dân chủ: Khái niệm xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại "Demokratia" (ghép từ "Demos" - nhân dân và "Kratos" - quyền lực/chính quyền). Phân tích mô hình dân chủ chủ nô Aten từ thời cải cách Solon (thế kỷ VI TCN) đến thời Pericles (thế kỷ V TCN), chỉ ra giới hạn giai cấp của mô hình này khi chỉ dành cho thiểu số "công dân tự do", còn nô lệ bị coi là công cụ biết nói.
- Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin:
- C. Mác: Phê phán quan niệm của Hêghen trong tác phẩm "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen" (1843), chỉ ra chế độ quân chủ chuyên chế biến các đẳng cấp chính trị thành đẳng cấp xã hội, dẫn đến sự tha hóa hoàn toàn của nhà nước đối với xã hội công dân. Mác khẳng định chế độ dân chủ là chế độ nhà nước của nhân dân. Mác phân tích thời kỳ quá độ chính trị trong "Phê phán Cương lĩnh Gô-ta" và tổng kết Công xã Pa-ri (1871) trong tác phẩm "Nội chiến ở Pháp", chỉ rõ bản chất nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản cùng 5 nguyên nhân dẫn đến thất bại của Công xã (công nhân chưa trưởng thành về chính trị, thiếu liên minh công nông vững chắc, thành phần nội bộ không thuần nhất, bị bao vây cô lập và không kiên quyết tiến công kẻ thù).
- V.I. Lênin: Dân chủ là một hình thức nhà nước, gắn với bình đẳng trước pháp luật, tự do chính trị và nguyên tắc quyết định theo đa số. Lênin so sánh dân chủ tư sản (dân chủ hình thức cho thiểu số bóc lột) với dân chủ vô sản (dân chủ thực chất cho tuyệt đại đa số nhân dân lao động). Luận án phân tích ba lần thay đổi nhận thức chính trị của Lênin từ năm 1918 đến 1923 (từ Chính sách Cộng sản thời chiến chuyển sang Chính sách Kinh tế mới - NEP năm 1921, và các bài viết đổi mới căn bản tư duy về chủ nghĩa xã hội năm 1923 sau khi Liên bang Xô Viết thành lập).
- Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng: Hồ Chí Minh khẳng định "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân". Người làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa "dân là chủ" và "dân làm chủ", chỉ ra vai trò quyết định của lòng tin nhân dân ("Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị là thất bại"), yêu cầu nâng cao dân trí vì "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu", và nghiêm khắc phê phán cán bộ thoái hóa, tham nhũng xâm phạm quyền làm chủ của dân. Quan điểm này được cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp (1946, 1959, 2013) và Cương lĩnh năm 2011 của Đảng.
- Khung lý luận về phát huy quyền làm chủ ở xã, phường: Xác định chủ thể (nhân dân ở cơ sở, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể), nội dung (tham gia quản lý nhà nước, phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa), phương thức (dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện), cùng các tiêu chí đánh giá mức độ phát huy quyền làm chủ.
Chương 3: Thực trạng phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường tỉnh Đồng Nai hiện nay
Chương 3 đi sâu phân tích thực tế địa phương dựa trên các tư liệu khảo sát:
- Đặc điểm địa bàn và tác động đến thực thi dân chủ: Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, 170 đơn vị cấp xã, dân số năm 2019 hơn 3 triệu người với tỷ lệ dân nông thôn chiếm 51,6% và thành thị chiếm 48,4%. Là "thủ phủ công nghiệp" của vùng Đông Nam Bộ, tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị hóa cao đem lại nguồn lực kinh tế lớn nhưng đồng thời phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp liên quan đến đất đai, bồi thường giải tỏa, môi trường, đời sống công nhân và sinh hoạt tôn giáo.
- Những thành tựu đạt được:
- Nhận thức về quyền làm chủ và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của cấp ủy, chính quyền và nhân dân có sự chuyển biến rõ rệt.
- Nhân dân tích cực tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến vào các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.
- Tinh thần công khai, minh bạch theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" từng bước được triển khai; cải cách hành chính có tiến bộ, tác phong của cán bộ cấp xã có chuyển biến theo hướng gần dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân.
- Hạn chế và tồn tại:
- Việc thực hiện quy chế dân chủ ở một số xã, phường còn mang tính hình thức, đối phó.
- Ban thanh tra nhân dân tại nhiều cơ sở chưa chủ động trong công tác kiểm tra, giám sát, hoạt động còn phụ thuộc.
- Việc công khai thông tin quy hoạch, quản lý tài chính, đất đai chưa thật sự đầy đủ và kịp thời, khiến người dân gặp khó khăn trong tiếp cận dữ liệu.
- Quyền làm chủ của người dân trong việc tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng chính quyền còn hạn chế; vẫn còn tình trạng khiếu kiện đông người và tranh chấp quyền lợi chưa được xử lý dứt điểm.
- Nguyên nhân: Do sự lãnh đạo của một số cấp ủy chưa sâu sát; năng lực chuyên môn và hiểu biết pháp luật của một bộ phận cán bộ cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu; công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa sâu rộng; trình độ nhận thức và ý thức làm chủ của một bộ phận nhân dân chưa cao; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân chủ cơ sở giai đoạn này còn có điểm bất cập, thiếu chế tài cụ thể.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
Chương 4 đưa ra phương hướng và giải pháp cụ thể:
- Hệ thống quan điểm chỉ đạo: Luận án nhấn mạnh quan điểm kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững vai trò lãnh đạo trực tiếp của Đảng; thực hiện mở rộng dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ cương, kỷ luật pháp luật; lấy sự hài lòng và lợi ích thiết thực của nhân dân làm thước đo hiệu quả thực thi dân chủ.
- Các nhóm giải pháp đồng bộ:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở về phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, thể chế và cụ thể hóa các quy định pháp luật về dân chủ cơ sở, bảo đảm vận hành đầy đủ phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
- Đổi mới phương thức hoạt động của chính quyền cấp xã, đẩy mạnh cải cách hành chính, công khai minh bạch các thủ tục hành chính, quy hoạch đất đai và tài chính công.
- Củng cố tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban thanh tra nhân dân và Ban giám sát đầu tư của cộng đồng tại các xã, phường.
- Nâng cao dân trí, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện vật chất và văn hóa để người dân chủ động thực hiện quyền làm chủ.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về mặt lý luận: Luận án bổ sung và làm sâu sắc thêm hệ thống lý luận triết học về dân chủ, phân tích rõ mối quan hệ biện chứng giữa "dân là chủ" và "dân làm chủ" trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại địa bàn cơ sở cấp xã, phường. Luận án làm rõ các tiêu chí, phương thức và điều kiện bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận án phản ánh bức tranh thực trạng phát huy quyền làm chủ của nhân dân tại các xã, phường của tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến nay, chỉ ra những kết quả đạt được, các hạn chế cụ thể và nguyên nhân của chúng. Đồng thời, công trình cung cấp cơ sở khoa học giúp Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai và các cấp ủy chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở.
- Về kiến nghị và giải pháp: Luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện gắn kết giữa đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao năng lực quản lý của chính quyền cấp xã, phát huy vai trò phản biện của Mặt trận Tổ quốc với việc nâng cao tính tích cực chính trị - xã hội của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án bị giới hạn bởi phạm vi thời gian nghiên cứu (từ năm 2015 đến thời điểm bảo vệ năm 2024) và phạm vi không gian khảo sát tại địa bàn 170 đơn vị hành chính cấp xã của một tỉnh duy nhất là Đồng Nai. Do đặc thù của chuyên ngành Triết học, đề tài tiếp cận theo hướng định tính, phân tích tổng hợp các văn bản lý luận, báo cáo hành chính và nghiên cứu trường hợp chuyên sâu, chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học diện rộng bằng bảng hỏi định lượng hoặc xử lý mô hình kinh tế lượng.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ cơ sở dữ liệu của luận án, các nghiên cứu tiếp theo có thể:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh thực tiễn phát huy quyền làm chủ của nhân dân giữa các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (như Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Đánh giá tác động thực tế của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (được Quốc hội khóa XV thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2023) đối với địa bàn cấp xã, phường trong giai đoạn mới.
- Kết hợp phương pháp định lượng để đo lường mức độ tham gia thực tế và sự hài lòng của từng nhóm đối tượng cụ thể (công nhân trong các khu công nghiệp, nông dân, đồng bào có đạo) đối với việc thực thi dân chủ ở cơ sở.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng và mục đích sau:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Công trình là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề Triết học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng, Quản lý hành chính công và Luật học, đặc biệt là phần hệ thống hóa tư tưởng triết học chính trị của C. Mác, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh về dân chủ.
- Đối với cán bộ lãnh đạo và cơ quan quản lý nhà nước tại Đồng Nai: Cung cấp cơ sở khoa học để Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ tỉnh, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp tại Đồng Nai tham chiếu, đánh giá và ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo sát với thực tiễn cơ sở.
- Đối với cán bộ công chức cấp xã, phường và cán bộ Mặt trận: Phần đánh giá thực trạng và giải pháp tại Chương 3 và Chương 4 cung cấp căn cứ thiết thực phục vụ công tác dân vận, xây dựng quy ước, hương ước, tổ chức đối thoại trực tiếp và nâng cao hiệu quả giám sát của Ban thanh tra nhân dân.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án thuộc chuyên ngành nào và giải quyết mục tiêu chính gì?
Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 9.02), chuyên ngành Triết học. Mục tiêu chính là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện dân chủ ở xã, phường tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 đến nay, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền làm chủ của nhân dân tại cơ sở trong thời gian tới.
2. Tác giả luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể nào?
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội thuộc hướng tiếp cận định tính, bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp (xử lý báo cáo, dữ liệu thống kê kinh tế - xã hội); phương pháp chuyên gia (lấy ý kiến nhà khoa học, nhà quản lý địa phương); phương pháp nghiên cứu trường hợp (khảo sát thực tế các xã, phường cụ thể); và phương pháp quan sát (thu thập biểu hiện tâm lý, hành vi thực tế và yếu tố văn hóa địa phương).
3. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai tác động như thế nào đến việc thực thi dân chủ ở cơ sở?
Đồng Nai là tỉnh có diện tích 5.907,2 km² (lớn thứ nhì Đông Nam Bộ) và dân số năm 2019 đạt trên 3 triệu người (đông thứ nhì Đông Nam Bộ). Là trung tâm công nghiệp lớn với 170 đơn vị cấp xã, sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp tạo ra nguồn lực phát triển nhưng đồng thời làm gia tăng các vấn đề phức tạp về quản lý đất đai, bồi thường giải tỏa, ô nhiễm môi trường, biến động dân cư lao động nhập cư và sinh hoạt tôn giáo, đặt ra yêu cầu phải bảo đảm quyền làm chủ của người dân để giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của nhân dân được luận án phân tích qua các phương diện cốt lõi nào?
Luận án phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh qua ba câu hỏi căn bản: (1) Nhân dân làm chủ những gì (toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và làm chủ bản thân); (2) Tại sao nhân dân có quyền làm chủ (dân là gốc của đất nước, dân đổ máu xương xây dựng và bảo vệ đất nước, nuôi dưỡng Đảng và chính quyền); và (3) Làm thế nào để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân (nhân dân phải được giáo dục nâng cao dân trí vì "dân tộc dốt là dân tộc yếu", tổ chức đoàn thể phải giúp đỡ, cán bộ phải thực sự là "đầy tớ" của dân).
5. Điểm hạn chế chính trong thực tiễn thực hiện dân chủ cơ sở tại xã, phường tỉnh Đồng Nai được nêu trong văn bản là gì?
Luận án chỉ ra việc phát huy quyền làm chủ ở một số xã, phường tại Đồng Nai còn mang tính hình thức; Ban thanh tra nhân dân chưa phát huy đầy đủ vai trò và chưa chủ động kiểm tra, giám sát; công tác công khai thông tin có lúc chưa đầy đủ; một bộ phận người dân chưa nhận thức toàn diện về quyền hạn của mình; và căn cứ pháp lý bảo đảm phương châm dân chủ cơ sở còn thiếu đồng bộ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Thị Dung là công trình nghiên cứu chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cấp cơ sở tại một địa bàn công nghiệp hóa trọng điểm là tỉnh Đồng Nai. Luận án đã hệ thống hóa các quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời đánh giá khách quan bức tranh thực trạng tại các xã, phường giai đoạn 2015-2024. Với việc xác lập 4 chương nội dung rõ ràng và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, công trình đã đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách dân chủ cơ sở tại địa phương.