chương I, tác giả phân tích nhân tố con người và vai trò quan trọng của nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất. Về nhân tố con người, tác giả cho rằng: 7 Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ quan và khách quan để tạo nên năng lực, phẩm chất và trí tuệ của con người được hình thành và phát huy tác dụng vào trong thực tiễn sản xuất vật chất hay quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn lịch sử nhất định [49, tr. Cuốn sách cũng chỉ ra những đặc điểm và vai trò của nhân tố con người trong mối quan hệ với hệ thống sản xuất xã hội. Ngoài ra, tác giả còn phân tích các yếu tố tác động đến việc phát huy nhân tố con người và sự cần thiết phải phát huy nhân tố con người trong quá trình đổi mới, phát triển sản xuất; khái quát kinh nghiệm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới về việc phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế.
Nhưng tác giả cũng chưa đưa ra được quan điểm có liên quan trực tiếp đến việc phát huy nhân tố con người trong phát triển KT-XH. Tác giả sẽ tham khảo và tiếp thu một số nội dung liên quan tới khái niệm nhân tố con người, đặc điểm và vai trò của nhân tố con người đối với hệ thống sản xuất xã hội; tầm quan trọng của việc phát huy nhân tố con người và các yếu tố tác động đến việc phát huy nhân tố con người. - Lê Quang Hoan, Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay [29]. Tác giả xem nhân tố con người như một chỉnh thể thống nhất của hai quá trình: “một mặt, từ hoạt động con người thông qua các hệ thống giá trị mà hình thành nên nhân cách với tư cách là thước đo giá trị của chủ thể.
Mặt khác, nhân cách với tư cách là thước đo mức độ phù hợp giữa giá trị của chủ thể với giá trị xã hội, là cơ sở, điều kiện cho mọi hoạt động của chủ thể tiếp tục sáng tạo ra các giá trị xã hội” [29, tr. Trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả định nghĩa “nhân tố con người là hệ thống các thuộc tính, đặc trưng quy định vai trò chủ thể (cá nhân, tập thể, cộng đồng) tích cực, chủ 8 động, sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hòa đặc trưng về phẩm chất, năng lực của con người mới xã hội chủ nghĩa trong quá trình cách mạng Việt Nam” [29, tr. Từ quan điểm về nhân tố con người, tác giả khẳng định “Phát triển người là đặc trưng bản chất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, con người là chủ thể, là nhân tố năng động nhất, sáng tạo nhất…” [29, tr.123] và cho rằng “vai trò nhân tố con người được biểu hiện tập trung ở vai trò nguồn nhân lực, nhưng nó có nghĩa rộng hơn, bao gồm những mục tiêu, động lực, phẩm chất và năng lực của con người” [29, tr. Bàn đến khái niệm phát huy nhân tố con người, tác giả cho rằng “phát huy nhân tố con người là một quá trình bao gồm hai mặt: tích cực hóa nhân tố con người trên cơ sở không ngừng nâng cao chất lượng nhân tố con người” [29, tr.
Nói chung tác giả cũng đưa ra quan điểm về nhân tố con người và phát huy nhân tố con người, chỉ ra vai trò nhân tố con người. Đó là cơ sở lý luận giúp NCS được tiếp cận và có hướng đi trong nghiên cứu đề tài của mình, nhưng tác giả cũng chưa đưa ra được hoàn thiện những quan điểm nhân tố con người và phát huy nhân tố con người trên cơ sở gắn liền với việc phát triển KT-XH, nhất là chưa đề cập đến việc phát huy nhân tố con người trong phát triển KT-XH; nhưng đây sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích đối với nghiên cứu sinh. - Trần Thị Thủy, Nhân tố con người và những biện pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay [64]. Tác giả phân tích cơ sở lý luận của việc phát huy nhân tố con người, làm sáng tỏ bản chất, nội dung của khái niệm nhân tố con người; thực chất và nội dung của vấn đề phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
Về khái niệm nhân tố con người, tác giả cho rằng nhân tố con người là: Một chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa các mặt hoạt động và tổng hòa những phẩm chất, năng lực về trí tuệ, thể lực của cá nhân hay cộng đồng người tham gia vào sự biến đổi, phát triển của một 9 quá trình xã hội nhất định với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử - xã hội, sáng tạo mọi giá trị vật chất và giá trị tinh thần, đồng thời tự hoàn thiện và làm phong phú thêm phẩm giá nhân cách của chính con người [64, tr. Từ việc cho rằng, phát huy nhân tố con người chính là một quá trình chủ động, tự giác hình thành, bồi dưỡng, phát triển nhân tố con người và hiện thực hóa vai trò chủ thể tích cực, sáng tạo của nó, nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội và sự hoàn thiện về mọi mặt của con người, tác giả nêu khái niệm: “phát huy nhân tố con người về thực chất là quá trình nâng cao không ngừng vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người, tạo ra động lực phát triển của xã hội và sự hoàn thiện chính bản thân con người” [64, tr. Những nội dung khái niệm về nhân tố con người, phát huy nhân tố con người của tác giả là tài liệu tham khảo để nghiên cứu sinh đưa ra quan điểm nhân tố con người, phát huy nhân tố con người trong qúa trình thực hiện đề tài luận án của mình. - Hoàng Thái Triển, Vấn đề phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế [67].
Tác giả khẳng định vai trò quan trọng của nhân tố con người đối với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là đối với sự phát triển kinh tế. Hiện nay, sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng như việc nâng cao năng suất lao động không chỉ dựng lại ở các tham số về số lượng, mà biểu hiện quan trọng là ở các tham số về chất lượng, nghĩa là nhân tố con người không phải chỉ là những tri thức, kiến thức về khoa học và công nghệ hiện đại, mà còn là niềm tin và ý thức trách nhiệm đối với tương lai. Theo tác giả, phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế, con người phải áp dụng được những tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, tăng cường chuyên môn hóa lao động, đồng thời phải cải cách giáo dục: “khi nền kinh tế trí thức đã xuất hiện thì phải chủ động tạo ra một xã hội học tập” [67, tr. Ngoài ra, tác giả còn khẳng định vai trò của quan hệ sở hữu trong thực tiễn: “khi chúng ta tiến 10 sang nền kinh tế tri thức thì bên cạnh thể chế quyền sở hữu trong các thành phần kinh tế, cần phải quan tâm kịp thời tới thể chế quyền sở hữu trí tuệ” [67, tr.
Mặt khác, cần phải hoàn thiện không ngừng quan hệ sản xuất cho phù hợp với lực lượng sản xuất, bởi “sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất phải được coi là động lực chính, thường xuyên của tiến bộ kinh tế” [67, tr. Nội dung trên đã giúp nghiên cứu sinh hiểu thêm một số vấn đề lý luận về vai trò quan trọng của nhân tố con người đối với sự phát triển kinh tế, mối quan hệ giữa con người và sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật - công nghệ, vấn đề phát huy nhân tố con người để phát triển kinh tế. - Sổm Chít Suk Sa Vắt, Kinh tế lao động [129]. Tác giả khẳng định, trong lịch sử xã hội của nhân loại, sự phát triển và tiến bộ xã hội là do “kết quả lao động của nhân loại dưới sự khéo léo trong lao động và nghề nghiệp chuyên môn,… Lao động là tài nguyên quan trọng và là tài nguyên mà chúng ta có thể cải biến theo đặc điểm của yếu tố sản xuất,… lao động là nguồn sinh nở của mọi thứ” [129, tr.
Theo tác giả, lực lượng lao động là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là lực lượng lao động lành nghề. Lao động tạo ra nguồn thu nhập cho xã hội và chính cá nhân con người: “Lao động là một tài nguyên mà đem lại nguồn thu nhập cho đất nước” [129, tr. Tác giả rất coi trọng vấn đề liên quan đến lao động cả về việc phát triển nghề nghiệp, tay nghề và công tác tìm kiếm việc làm cho người lao động, bởi làm như thế mới có thể phát huy được năng lực, phẩm chất của nhân tố con người trong phát triển đất nước. Tác giả còn chỉ ra vai trò của Nhà nước trong việc điều chỉnh lao động và thị trường lao động: “Nhà nước đưa ra các quy chế về thị trường lao động dưới hình thức pháp luật, quy định mức trả tiền công thấp nhất, điều tiết việc cung ứng lao động cho xã hội, thực hiện chính sách thị trường lao động vi mô, chính sách giáo dục cho thanh thiếu niên” [129, tr.
11 Nội dung cuốn sách giúp nghiên cứu sinh có được cách nhìn khái quát hơn về vai trò của lực lượng lao động trong phát triển KT-XH, tầm quan trọng của việc giải quyết việc làm cho xã hội, việc đào tạo, huấn luyện lực lượng lao động đảm bảo chất lượng, vai trò to lớn của chính sách Nhà nước đối với lao động và thị trường lao động. - Xỉ Tha Lườn Khăm Phu Vông, Vai trò của chính sách xã hội đối với việc phát huy nhân tố con người ở Lào hiện nay [78]. Tác giả đã phân tích khái quát một số khía cạnh lý luận về nhân tố con người và phát huy nhân tố con người. Theo tác giả, khái niệm nhân tố con người có hai cách tiếp cận: “Một là, coi nhân tố con người như là một hoạt động của những nghiên cứu riêng biệt, những năng lực và khả năng của họ do các nhu cầu và lợi ích cũng như tiềm năng trí tuệ và thể lực của mỗi người quyết định.