CHƯƠNG I KHÁI QUÁT SƠN MÀI TRUYỀN THỐNG BÌNH DƯƠNG 1. Khái quát nghề sơn cổ truyền Việt Nam Cây sơn là một sản vật quý tại Việt Nam có tên khoa học Rhus succedenéa họ Anacrdiacea (thường gọi là cây sơn ta) và nghề sơn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở đất nước ta: “ Đầu tiên người xưa dùng chất nhựa của loài cây sơn được trồng nhiều ở các vùng Vĩnh Phú, Phú Thọ dùng chủ yếu để sơn gắn các đồ dùng, sơn thuyền, sơn vũ khí v.v… Dần dần sơn ta được dùng vào các công việc trang trí trong các cung điện, đền đài, chùa tháp…lúc này sơn ta đã trở thành một nghề, và người thợ sơn được trọng vọng hơn so với nhiều nghề khác trong xã hội” [33, tr. Từ khi nào cây sơn, chất liệu nhựa sơn được đưa vào ứng dụng trong đời sống, đặc biệt là việc chế tác thành các đồ dùng, sản phẩm hàng hóa?, điều này còn đang được tìm hiểu, nghiên cứu của các nhà chuyên môn. Tuy nhiên từ nhựa cây thiên nhiên người Việt xưa đã sớm phát hiện ra nó, biến thành những vật dụng hàng ngày bền chắc, công năng sử dụng thuận tiện, không những thế còn mang tính thẩm mỹ cao, ẩn chứa nền văn hóa bản địa.
Qua các cuộc khai quật, khảo cổ đã phát hiện nhiều di vật có dấu tích của cây sơn và nghề sơn, điển hình là những hiện vật bằng sơn được tìm thấy trong ngôi mộ cổ ở Việt Khuê, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) khai quật năm 1961 với những công cụ như máy chèo có phủ sơn hai lớp, lớp sơn trong màu đen, lớp sơn ngoài màu vàng. Cùng đó là 9 chiếc cán giáo và một hộp chữ nhật, các vật dụng đó được đốt cháy xém sau đó mới đem phủ sơn. Với sự có mặt của các đồ vật bằng sơn được tìm thấy, qua đó đã xác định được trình độ về kỹ thuật và mỹ thuật chế tác đồ sơn của ông cha ta xưa kia. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì từng công cụ đồ sơn ở giai đoạn này đã có chỗ đứng nhất định về mặt thẩm mỹ và đạt trình độ khá cao về kỹ thuật “Cư dân 9 thời kỳ này đã biết sử dụng các sắc độ của sơn phù hợp với từng công cụ” [19, tr.
Qua các tài liệu sử học, truyền thuyết, văn học dân gian. Đặc biệt là những tư liệu khảo cổ học…từ đó có thể khẳng định nghề sơn là một nghề thủ công đã xuất hiện từ lâu đời trên đất nước ta, trong lòng văn hóa Đông Sơn, khoảng 2500 năm cách ngày nay. Đến các triều đại phong kiến nghề sơn đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp một giai trò hết sức quan trọng nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt của con người, trong thờ tự tín ngưỡng, trang trí cung đình và thương mại. Thời Lý (Thế kỷ XI) ,Việt Nam bước vào thời kỳ độc lập tự chủ - bắt đầu một giai đoạn phát triển rực rỡ của nền văn hóa dân tộc, các nghề thủ công phát triển.
Phật giáo vốn vào nước ta từ lâu, đến thời kỳ này phát triển mạnh nhất, Phật giáo gắn với Vương quyền là động lực lớn cho sự phát triển của kiến trúc. Chùa chiền được xây dựng nhiều nơi, nhiều đồ thờ cúng cũng như đồ dùng được phủ sơn ra đời nhằm phục vụ cho tầng lớp quý tộc thời bấy giờ. Ở thời Trần, đồ sơn được sử dụng rộng rãi cho nhiều tầng lớp hơn. Ngoài việc phục vụ tầng lớp quý tộc cấp cao, cũng đã có sản vật giành cho những người giàu có hoặc tầng lớp quý tộc cấp thấp.
Đồ sơn thời Lê, có bước phát triển mới. Sơn bắt đầu được sử dụng trang trí cung thất, đền đài, chùa tháp… đồ sơn không chỉ được xem như là một biểu tượng quyền uy, sang trọng, linh thiên, cao quý mà còn được phổ biến rộng rãi trong nhân dân “đồ sơn không còn là tài sản riêng của tầng lớp quý tộc, biểu thị cho uy quyền đẳng cấp xã hội mà đồ sơn bắt đầu xuất hiện trong nhân dân với chức năng sản phẩm mua bán ngoài chợ” [19, tr. Nhìn chung, thời Lý, Trần, Lê…từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV được xem là giai đoạn của nghề sơn quang dầu, nghề này đã đạt đến đỉnh cao và để lại đến ngày nay, nhiều sản vật quý giá bền vững và đẹp trong các di tích cổ như các tượng Thần, tượng Phật, các bức hoành phi, câu đối… 10 Đến thời Mạc (thế kỷ XVI), thế kỷ của những sắc thái mới cho nền điêu khắc cổ Việt Nam bằng sự xuất hiện kiến trúc đình làng và hệ thống chạm khắc, kiến trúc. Nghệ thuật điêu khắc phát triển, nghệ thuật đồ sơn cũng phát triển.
Với hàng loạt tượng gỗ, đồ thờ họa tiết trang trí sơn son thếp vàng có mặt rộng rãi khắp các làng xã Việt Nam, từ cung điện đến thôn quê, từ đình chùa đến chợ quán. Thế kỷ XVII – XVIII, nghề sơn đã đạt đến đỉnh cao về mặt kỹ thuật phủ sơn, thếp vàng, thếp bạc chuẩn mực, để lại nhiều dấu ấn tự hào, một hình ảnh đặc sắc về mỹ thuật, một vị thế đồ sộ, lộng lẫy cho văn hóa, nghệ thuật Việt Nam. Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII là thế kỷ vàng của văn hóa nghệ thuật nước ta mà đồ sơn góp phần không nhỏ. Qua thế kỷ XIX (thời Nguyễn) các sản phẩm đồ sơn đã phát triển đồ sộ, quy mô về mặt chất lượng cũng như số lượng.
Đặc biệt sơn và nghề sơn đã phát triển cực thịnh trong việc trang trí và thương mại “Năm 1895 sơn Việt Nam đã được xuất khẩu sang Nhật Bản. Năm 1925 hãng Saito-Mijuta Nhật đã đặt đại lý mua sơn tại Hà Nội và Phú Thọ” [35, Tr. Vào năm 1937 tại triển lãm Quốc tế Paris, lần đầu tiên đồ sơn mài Việt Nam được trưng bài tại Trung tâm nghệ thuật thế giới, đã được công chúng sành nghệ thuật đánh giá cao và gây ấn tượng tốt đẹp. Họa sỹ Nguyễn Khang và nghệ nhân Đinh Văn Thành cũng có mặt trong triển lãm này.
Từ năm 1957 đến năm 1962 các triển lãm tranh hội họa Việt Nam trong đó có chất liệu sơn mài được ca ngợi tại các nước phe Xã Hội Chủ Nghĩa. Thời kỳ những năm 1960 cũng là thời kỳ đỉnh cao của sơn mài thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Nghề sơn mài ở Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại không những chia theo khu vực sản phẩm mà còn có yếu tố liên kết phục vụ lẫn nhau. Ví như nghề sơn mài Phù Lào (Tiên Sơn - Bắc Ninh) phải lấy quỳ vàng, quỳ bạc của làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, lấy giấy dó của làng Ðông Cao, lấy vải màn của làng Ðình Cả, lấy vóc hoặc sản phẩm đồ sơn của làng Phù Khê, lấy nguồn sơn thô của Phú Thọ, Yên Bái và lấy nguồn dầu trẩu, dầu trám của Lạng Sơn, Cao Bằng.
11 Ở trong miền Nam hầu như chỉ sử dụng sơn và nguyên liệu ở các tỉnh miền Bắc, ngoài ra một số ít nhập khẩu của nước ngoài. Tuy nhiên Hà Nội ngày nay vẫn là đầu mối tập trung nguyên liệu cung cấp khắp nơi cả nước. Bình Dương luôn luôn vẫn là một tỉnh tiêu thụ khá lớn lượng sơn ta và nguyên liệu khác như: vàng, bạc lá, son các loại… do có cả một làng nghề sản xuất, trường đào tạo sơn mài và đội ngũ họa sỹ chuyên sáng tác tranh sơn mài mỹ thuật. Sự hình thành và phát triển nghề sơn mài truyền thống Bình Dương 1.
Tổng quan lịch sử - văn hóa tỉnh Bình Dương Bình Dương xưa là vùng đất hoang vu chỉ có một số ít người Stiêng, người Mạ, người Miên làm rẫy sinh sống, cho đến “ Từ giữa thế kỷ XVII trên cả vùng đất Bình Dương, nhất là những vùng trũng bải bồi ven sông, lưu dân người Việt đã định cư và khai phá. Tuy dân số ít, diện tích khai thác còn khiêm tốn, nhưng đây là vùng đất đai màu mở, con người cần cù chịu khó, nên việc sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, đậu, bắp (ngô), khoai…cho năng suất cao, cuộc sống ổn định, tạo cơ sở quan trọng cho quá trình phát triển mạnh mẽ sau này” [3, tr. Song song với sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề khác cũng có điều kiện phát triển khá nhanh như khai thác lâm sản, sản xuất dụng cụ lao động, hàng gốm, sơn mài thủ công mỹ nghệ. Đến cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII các chúa Nguyễn bắt đầu mở mang vùng đất này để chính thức hóa sự nhập cư của người Việt, đồng thời ban bố các chính sách chính trị, kinh tế khác.
Chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển Minh Tông Hiến Minh Hoàng Đế) cử Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (Thống Suất Chưởng Cơ) trông coi vùng đất mới vừa khai phá này “…Năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh lấy xứ Nông Nại lập thành phủ Gia Định, lấy xứ Đồng Nai lập thành huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn lập thành huyện Tân Bình và dựng dinh Phiên Trấn. Ở mỗi dinh đều được đặt các chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị…” [9, tr. Năm 1833, triều Minh Mạng thứ nhất, Phan Huy Chú đã viết “Đại Nam thống nhất toàn đồ” có ghi chú “Phủ Gia Định bao gồm 3 tổng: Phước Long, Bình 12 An và Tân Bình. Địa giới tỉnh Bình An thời ấy rất rộng, đông giáp Sông Bé và Sông Đồng Nai, tây giáp sông Sài Gòn và sông Thị Tính, phía Nam chạy dọc theo Giồng Ông Tố và ngã ba Nhà Bè.
Tổng Bình An lại chia ra làm 4 phủ: Thủ Thiêm, Thủ Đức, Thủ Dầu Một và Thủ Băng Bột (Thị Tính), trong đó Thủ Dầu Một là trung tâm của tổng Bình An” [17, tr. Sau khi Pháp chiếm Biên Hòa và cả khu vực miền Đông Nam Bộ, vào năm 1871 huyện Bình An đổi thành hạt Thủ Dầu Một. Qua nhiều lần phân cách, thay đổi địa danh, địa giới đến năm 1900 tỉnh Thủ Dầu Một ra đời. Năm 1956 tỉnh Thủ Dầu Một được đổi tên là tỉnh Bình Dương.
Năm 1976, tỉnh Bình Dương sát nhập với tỉnh Bình Long, Phước Long trở thành tỉnh Sông Bé. Năm 1996, tỉnh Sông Bé được chia thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước cho đến nay. Bình Dương ngày nay là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 2. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh.
Bình Dương có 01 thị xã, 6 huyện với 9 phường, 8 thị trấn và 72 xã. Tỉnh lỵ là thị xã Thủ Dầu Một trung tâm chính trị hành chính - kinh tế - văn hoá của tỉnh Bình Dương.