Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Những nhân tố tác động đến mỹ thuật Hà Nội thời kỳ đổi mới Chƣơng 3: Diện mạo và đặc điểm của mỹ thuật Hà Nội thời kỳ đổi mới Chƣơng 4: Những vấn đề đặt ra và bài học kinh nghiệm từ sự phát triển của mỹ thuật Hà Nội thời kỳ đổi mới 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ngoài nước Tình hình nghiên cứu và triển khai các vấn đề liên quan đến luận án tập trung vào các nhóm vấn đề sau: Những công trình nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam trên bình diện lý thuyết Các tác giả nƣớc ngoài cũng có đóng góp nhất định trong nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam nói chung và mỹ thuật Hà Nội thời kỳ đổi mới nói riêng. Về mặt lý thuyết, các công trình nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam đều lấy việc xác định cách thức phân kỳ mỹ thuật Việt Nam làm cốt lõi.
Tuy nhiên, các học giả nƣớc ngoài có quan điểm phân kỳ mỹ thuật Việt Nam khá khác biệt. Với số lƣợng nổi trội và khá quen thuộc với các họa sĩ Việt Nam là nhà nghiên cứu nghệ thuật N.Taylor qua loạt các công trình nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam với phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu là tiếp cận dƣới góc độ nhân học nghệ thuật.Taylor là giáo sƣ về Nghệ thuật Nam Á và Đông Nam Á của Trƣờng Nghệ thuật, Viện Nghệ thuật Chicago (Hoa Kỳ); giảng dạy tại Đại học Bang Arizona, Đại học California tại Los Angeles (Hoa Kỳ)và Đại học Quốc gia Singapore và đã viết rất nhiều về hội họa Việt Nam hiện đại và nghệ thuật Việt Nam đƣơng đại. Luận án tiến sĩ của N.Taylor (1997), The artist and the state: the polictics of painting and national identity in Hanoi, Viet Nam, 1925-1995 (Nghệ sĩ và Nhà nước: Hội họa và bản sắc quốc gia ở Hà Nội, Việt Nam, 1925-1995) [199] là một công trình nghiên cứu phân tích quá trình phát triển của hội họa ở Hà Nội từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX với sự ra đời của Trƣờng Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dƣơng. Trong công trình này, Nora Taylor phân kỳ hội họa Việt Nam thành: “thời kỳ thuộc địa (1925-45)”, “cách mạng và kháng chiến (1945-75)”, “thống nhất (1975-86)” và “thời kỳ 10 mở cửa kinh tế” từ năm 1986.
Quan điểm phân kỳ này đƣợc N.Taylor sử dụng thống nhất trong các công trình khác của mình. Một công trình khác nghiên cứu bằng tiếng Anh là luận án bậc Tiến sĩ Triết học về Nghệ thuật Thị giác tại Trƣờng Nghệ thuật Sydney- Đại học Tổng hợp Sydney Vietnamesese Aesthetics from 1925 onwards (Thẩm mỹ Việt Nam từ 1925 đến nay) (2005) của tác giả Boi Tran Huynh (Huỳnh Bội Trân) [206]. Đây là một công trình nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam một cách đầy đủ nhất từ trƣớc tới nay. Đặt trong không gian văn hóa của từng giai đoạn, tác giả đã tiếp cận và phân kỳ mỹ thuật Việt Nam thành các giai đoạn: từ thời kỳ tiền thuộc địa thế kỷ XVIII đến năm 1884, 1925-1945, 1945-1975 ở miền Bắc, 1954-1975 ở miền Nam, 1975-1990 và những năm đổi mới 1990-2004.
Đặc biệt, ở hầu hết các công trình nêu trên, đều có nhiều luận điểm liên quan đến vai trò của Trƣờng Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dƣơng đối với mỹ thuật Việt Nam. Thêm vào đó là La peinture vietnamienne, une aventure entre tradition et modernité (Hội họa Việt Nam, cuộc phiêu lưu giữa truyền thống và hiện đại) [207] của một tác giả ngƣời Pháp Corinne de Ménonville. Do có thể đƣợc tiếp xúc trực tiếp với nguồn tƣ liệu bằng tiếng Pháp nên có thể nói rằng đây là công trình có tính xác thực khi bàn về quá trình vận động thành lập Trƣờng Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dƣơng. Trong công trình này, tác giả cũng tập trung vào quá trình phát triển của Trƣờng và nhấn mạnh đến vai trò của nhà trƣờng trong việc thay đổi vai trò của ngƣời nghệ sĩ với tƣ cách là ngƣời sáng tạo độc lập về mặt kinh tế.
Công trình này đƣợc Đào Hùng trích dịch trong “Cuộc hành trình lãng mạn- Mỹ thuật Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại” [20]. Việc giới thuyết phạm vi thời gian của thời kỳ đổi mới cũng đƣợc một số công trình bƣớc đầu đề cập đến. Ở vấn đề này, các công trình của các học giả nƣớc ngoài (hoặc viết bằng tiếng Anh) cũng có nhiều luận giải khác nhau: Boi Tran Huynh [206] xác định phạm vi thời gian của thời kỳ đổi mới là từ 1990-2004 vì cho rằng tuy đề ra đƣờng lối đổi mới từ năm 1986 nhƣng 11 đến năm 1990 mới nhìn nhận thấy ảnh hƣởng rõ ràng trong nghệ thuật.Taylor, trong hầu hết các công trình nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam của mình, mặc dù vẫn xác định phạm vi thời gian của thời kỳ đổi mới từ năm 1986, tuy nhiên, trong công trình “What is Đổi Mới in Art?”(Đổi mới trong Nghệ thuật là gì?) [205], tác giả khẳng định đây là một mốc thời gian mang tính giả tƣởng. Ngoài ra, việc giới thuyết khái niệm mỹ thuật Việt Nam hay mỹ thuật Hà Nội cũng bƣớc đầu xuất hiện ở một số công trình, trong đó có các công trình nghiên cứu của N.Taylor thừa nhận rằng rất thận trọng khi lựa chọn nghiên cứu nghệ thuật Hà Nội để nói về nghệ thuật Việt Nam với hàm ý nghệ thuật Hà Nội là nghệ thuật Việt Nam và giả định rằng tất cả các tác phẩm nghệ thuật đƣợc sáng tạo ở Việt Nam đều là một và đều là giống nhau [201].
Trong “Vietnamese Anti-art and Anti-Vietnamese Artists: Experimental Performance Culture in Ha Noi‟s Alternative Exhibition Spaces” (Văn hóa Trình diễn thử nghiệm trong các không gian triển lãm thay đổi ở Hà Nội) [203], khái niệm “nghệ thuật Việt Nam” đƣợc giới thuyết thông qua sự khái quát về lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam từ khi thành lập Trƣờng Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dƣơng trải qua nhiều thời kỳ khác nhau và cho rằng có thể định nghĩa nghệ thuật Việt Nam thông qua mảng tranh đề tài đã hình thành ở thời kỳ thuộc địa, khi các nghệ sĩ học cách tái hiện Việt Nam trong khuôn khổ các loại tranh phong cảnh và chân dung ngƣời dân tộc thiểu số Việt Nam. Cách thể hiện này tiếp tục cả ở miền Bắc và miền Nam ở các thời kỳ sau đó. Đặc biệt ở thời kỳ đổi mới khi tranh đƣợc trƣng bày tại các gallery thƣơng mại, khách du lịch tìm đến với nhu cầu muốn khai phá một vùng đất mới thì những hình ảnh nhằm vinh danh các địa điểm du lịch của đất nƣớc, các truyền thống của địa phƣơng, cũng nhƣ di sản cổ xƣa trở thành cái gọi là “nghệ thuật Việt Nam”. Đặc biệt, liên quan đến khái niệm mỹ thuật/nghệ thuật Việt Nam, trong Painters in Hanoi: an ethnography of Vietnamese art (Các họa sĩ ở Hà Nội: Một cách nhìn dân tộc học về nghệ thuật Việt Nam) [201], N.Taylor mở rộng hơn với 12 khái niệm thế giới nghệ thuật ở Hà Nội; ở đây, có một cách hiểu hoàn toàn mới so với quan niệm của nghệ thuật Phƣơng Tây bằng cách giới thuyết một định nghĩa về thế giới nghệ thuật ở Hà Nội.
Theo đó, thế giới nghệ thuật ở Hà Nội hoàn toàn khác biệt so với thế giới nghệ thuật ở các nƣớc phƣơng Tây. Trong thế giới nghệ thuật ở Hà Nội, các họa sĩ đều biết đến nhau và là thành viên của Hội nghề nghiệp. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, mặc dù số lƣợng các công trình nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam trên bình diện lý thuyết không nhiều, nhƣng những công trình này đóng góp một phần quan trọng trong quá trình luận giải các khái niệm công cụ của luận án. Những công trình nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới Số lƣợng những nghiên cứu của nhóm này chủ yếu là một số bài viết, tiểu mục trong công trình luận giải các vấn đề nhƣ bản sắc, giới, vai trò của các nghệ sĩ, toàn cầu hóa, thị trƣờng mỹ thuật, thƣơng mại hóa… của các học giả đã nêu.
Trong Painters in Hanoi: an ethnography of Vietnamese art [201], N.Taylor tiếp tục làm rõ về mỹ thuật Việt Nam trong toàn bộ tổng quan nghệ thuật đƣơng đại khu vực Đông Nam Á đã chỉ ra vai trò của nhà trƣờng, vai trò của quản lý văn hóa, sự thăng trầm trong đời sống cá nhân các họa sĩ, ảnh hƣởng của họ trong việc thay đổi nhận thức về giới, về xã hội và ảnh hƣởng của quá trình toàn cầu hóa thị trƣờng nghệ thuật và du lịch đến nghệ thuật; và những vấn đề hiện thời nhƣ phƣơng Đông học/ phƣơng Tây học, nghệ thuật và cách mạng, giới, tính dục và chủ nghĩa toàn cầu. Những thông tin mới về đời tƣ nghệ sĩ và áp lực của hệ tƣ tƣởng thể hiện trong hội họa Việt Nam hiện đại đƣợc miêu tả khá đầy đủ ở mỗi chƣơng. Một luận điểm quan trọng khác là sự thay đổi lớn lao về chính trị ảnh hƣởng lớn đến nghệ thuật, từ chủ nghĩa thuộc địa qua cách mạng và chiến tranh tới một nền kinh tế thị trƣờng. Đáng chú ý là trong giai đoạn từ sau năm 1986, N.Taylor cho rằng mỹ thuật Việt Nam đã phát triển theo các cấp độ từ đơn giản nhƣ chỉ đơn thuần phục vụ khách du lịch, tiến 13 tới hình thành một thị trƣờng nghệ thuật tƣ nhân hóa và cao hơn là sự chủ động tham gia của các nghệ sĩ vào các sự kiện nghệ thuật khu vực và quốc tế.
Những thay đổi về thế chế và chính trị trong lịch sử đã tạo ra cả cơ hội kinh tế cũng nhƣ hạn chế sản xuất nghệ thuật.Taylor cho rằng, hai nhân tố nghệ sĩ và thị trƣờng nghệ thuật là hai nhân tố thể hiện rõ nhất sự ảnh hƣởng của nghệ thuật hiện đại phƣơng Tây đối với mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới, thông qua việc lý giải cách thức các nghệ sĩ Việt Nam sẵn sàng vì lợi nhuận mà làm giả tranh của họa sĩ nổi tiếng Bùi Xuân Phái để bán cho những khách hàng “nhẹ dạ”.