chương 1 Phù điêu là một loại hình của điêu khắc, được tạo hình trên mặt phẳng, sử dụng phương pháp đục, khoét, chạm, trổ, gò trên các chất liệu như gỗ , đá, kim loại… để tạo ra đắp nổi hoặc khoét lõm với chiều dài và rộng là thật còn phần nổi mang tính ước lệ về khối. Hoành tráng là công trình văn hóa có ý nghĩa đặc biệt về mặt tư tưởng, nghệ thuật, lịch sử, khoa học của loài người được xã hội suy tồn và gìn giữ. Nó có thể là những công trình hợp thể kiến trúc- điêu khắc tiêu biểu như: đền đài, cung điện, thánh đường, khải hoàn môn, cổng thành, cổng chào, chùa, đình, lâu đài.hay các di tích liên quan đến sự kiện và nhân vật lịch sử. Phù điêu hoành tráng là một loại hình của nghệ thuật điêu khắc, gồm những hình tượng, nhân vật được tạo bằng những phương pháp như đục, Luan van 21 khoét, gò, đắp trên mặt phẳng.
Phù điêu hoành tráng, khối được thu lại và dàn sắp trên một mặt phẳng, dày hay mỏng tùy theo yêu cầu nội dung diễn tả và địa điểm trình bày khi ở ngoài trời hay trong nhà. Phù điêu hoành tráng làm đẹp cho cảnh quan đô thị, cảnh quan môi trường ở những nghĩa trang liệt sĩ, những di tích lịch sử, tưởng niệm, kỉ niệm những sự kiện lịch sử lớn của dân tộc, ca ngợi những anh hùng liệt sĩ, anh hùng dân tộc, những người có công trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước, tình đoàn kết, tương thân tương ái, yêu hòa bình, yêu quê hương đất nước. Từ xưa phù điêu Việt nam xuất hiện trên các cấu kiện kiến trúc truyền thống như đình, chùa, lăng, miếu, mộ.với kích thước nhỏ, diễn tả lại những hoạt cảnh sinh hoạt, lao động sản xuất, vui chơi lễ hội, các con vật, cây cối xung quanh đời sống sinh hoạt. Phù điêu hoành tráng Việt Nam được du nhập từ Châu Âu sang do đó chịu ảnh hưởng từ các nước Pháp và Liên Xô (cũ).
Từ năm 1966 đến năm 1984 các công trình điêu khắc hoành tráng về đề tài lịch sử cách mạng của dân tộc đầu tiên được xây dựng, hình thành nên một loại hình nghệ thuật mới cho điêu khắc Việt Nam.Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 2015, phù điêu hoành tráng Việt Nam phát triển mạnh về số lượng tác phẩm, thể hiện nhiều đề tài, nhiều phong cách, chất liệu khác nhau cùng với ngôn ngữ thể hiện đa dạng. Nhiều công trình đã mang tính ước lệ, khái quát và chứa đựng tính hoành tráng cao, mang những đặc trưng riêng cho dân tộc. Với nhiều đề tài khác nhau ca ngợi lịch sử truyền thống đấu tránh cách mạng kiên cường của dân tộc, ca ngợi và tri ân những anh hùng liệt sĩ, các vị lãnh tụ thiên tài của dân tôc, các danh nhân lịch sử, văn hóa, các thành tựu kinh tế chính trị, giáo dục. Luan van 22 CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA PHÙ ĐIÊU HOÀNH TRÁNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1985 – 2015.
Nội dung phù điêu hoành tráng Việt nam giai đoạn 1985 – 2015 “Nói đến hoành tráng cũng không thể chỉ nghĩ nó to lớn, vĩ đại, về hình thức mà cái cơ bản của hoành tráng là ý tưởng nội dung, dù tượng có to đến mấy nhưng không có nội dung hoành tráng thì đó chỉ là một cục đá, một khối bê tông vô hồn chiếm không gian và làm mất mỹ quan môi trường sống.19] Việt nam được biết đến trên thế giới là một dân tộc có bề dày lịch sử lâu đời, với 4000 năm dựng nước và gữi nước. Với nội dung đề tài lớn về lịch sử truyền thống dân tộc của Việt Nam có những tác phẩm như: Phù điêu sau tượng đài Quang Trung - Nguyễn Huệ (H3, tr.64), của tác giả Trần Hùng, Phù điêu sau tượng đài anh hùng dân tộc Lê Lợi (H2, tr.63) năm 2004 của nhóm tác giả Nguyễn Duy Độ, Nguyễn Hoàng Nhân và Khúc Quốc Ân. Phù điêu trong quần thể công trình tượng đài Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn (H.61), 1998, của tác giả Hà Trí Dũng, phù điêu hai bên tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm, (H.68), Phù điêu sau tượng đài Hưng Nhượng Đại Vuơng Trần Quốc Tảng (H.65), năm 2005, của nhóm tác giả Mai Văn Kế, Vũ Đại Bình, ở thì xã Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh, phù điêu sau tượng Nguyên Phi Ỷ Lan (H.67) ở Dương Xá, Long Biên. Vinh danh những anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Phù điêu hoành tráng giai đoạn này phát triển bùng nổ với số lượng lớn và thường đi cùng bổ trợ cho những công trình tượng hoành tráng.
Với nội dung vinh danh những anh hùng dân tộc có thể kể đến một số công trình như: Phù điêu sau tượng đài anh hùng dân tộc Lê Lợi (H.62) năm 2004 của nhóm tác giả Nguyễn Duy Độ, Nguyễn Hoàng Nhân và Khúc Quốc Ân tại Luan van 23 quảng trường Thanh Hoá, phù điêu diễn tả mười năm trường kì kháng chiến, phá thành, đánh giặc, của nghĩa quân, ca ngợi công lao của anh hùng dân tộc Lê Lợi, một vị vua sáng lập nhà Lê, một vương triều dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Vị thế của đất nước Việt Nam với Trung Quốc được nâng cao. Phù điêu sau tượng đài Quang Trung - Nguyễn Huệ (H.64), của tác giả Trần Hùng, bằng chất liệu đá xanh. Phù điêu thể hiện sự chỉ huy tài tình về quân sự của Quang Trung tấn công thần tốc giải phóng kinh thành Thăng Long vào mùa xuân Kỉ Dậu.
Phù điêu trong quần thể công trình tượng đài Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn (H.61), 1998, của tác giả Hà Trí Dũng. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất của Việt Nam thời Trần (1225 – 1400). Phù điêu diễn tả cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông hào hùng với những hình ảnh đi vào sử sách như: Hội nghị Bình Than, Trần Quốc Tuấn bóp nát quả cam; hội nghị Diên Hồng, người lính khắc vào cánh tay chữ Sát Thát, truyền Hịch tướng sĩ. và khúc khải hoàn chiến thắng quân Nguyên.
Phù điêu là câu chuyện lịch sử phò tá cứu vua của Trần Quốc Tảng để lại cho thế hệ mai sau về truyền thống đấu tranh giữ vững bờ cõi nước nhà, cũng như tinh thần đoàn kết trong đấu tranh và xây dựng tổ quốc. Phù điêu về đề tài danh nhân văn hóa có công trình phù điêu hai bên tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm, (H.68), Một bức diễn tả lại cuộc đời sự nghiệp của Trạng Trình từ lúc còn bé đến cuối đời; bức kia diễn tả một giai đoạn lịch sử của địa phương từ khi thực dân Pháp xâm lược cho đến nay Phù điêu về đề tài vinh danh anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa có công trình Phù điêu sau tượng đài Hưng Nhượng Đại Vuơng Trần Quốc Tảng (H.65), năm 2005, của nhóm tác giả Mai Văn Kế, Vũ Đại Bình, ở thì xã Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh, phù điêu sau tượng Nguyên Phi Ỷ Lan (H.67) ở Dương Xá, Long Biên… Luan van 24 2. Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Đất nước trong thời kì hòa bình, đổi mới và phát triển kinh tế. Với nhu cầu của xã hội đòi hỏi có những công trình tưởng niệm, kỉ niệm biết ơn những người đã hy sinh bảo vệ đất nước được hòa bình thống nhất như ngày hôm nay.
Có thể kể đến những công trình phù điêu hoành tráng như bức Hà Nội mà đông – 1946 (H.71), ở chợ Hàng Da Đồng Xuân, thành phố Hà Nội. Để tưởng niệm sự hy sinh anh dũng của cá anh hùng liệt sĩ. Tấm phù điêu tái hiện cuộc chiến đấu 60 ngày đêm bảo vệ thủ đô. Mặt trước của phù điêu là những hình ảnh chiến sĩ cảm tử cầm bom ba càng, anh bộ đội cầm súng, công nhân và phụ nữ thủ đô, thể hiện ý tưởng nhân dân và lực lượng vũ trang cùng sát cánh bên nhau chiến đấu bảo vệ thủ đô.
Cụm phù điêu Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn (H.69), của nhà điêu khắc Dương Đăng Cẩn năm 2002 tại thôn Vĩnh Tường, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. 6 bức phù điêu là những hình ảnh tiêu biểu của các binh chủng hợp thành của bộ đội Trường Sơn gồm: công binh, giao liên, cao xạ, ô tô vận tải, súng máy 12,7 ly. Các chiến sĩ Binh đoàn Trường Sơn đã ngày đêm chiến đấu, trong đó nhiều người đã anh dũng hy sinh nhằm bảo đảm thông tuyến, thông hàng, chi viện kịp thời cho tiền tuyến lớn miền Nam ruột thịt. Phù điêu sau tượng đài Thanh niên xung phong Ngã Ba Đồng Lộc, (H.78-79), năm 1997, tại Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh của nhà điêu khắc Lê Đình Quỳ.
Xung quanh chân tượng đài là những bức phù điêu thể hiện không khí sôi nổi, khẩn trương của TNXP, công nhân giao thông, bộ đội, dân quân, lái xe, nhân dân Đồng Lộc và các xã lân cận san đường, lấp hố bom. dẫn đường cho xe qua, đảm bảo lưu thông tuyến đường cho xe chi viện vào miền Nam. Đề tài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ có bức phù điêu Bất khuất (H.73), 2000, của Lê Liên ở nhà tù Hoả Lò, Hà Nội. Phù điêu thể hiện những người yêu nước bị thực dân Pháp tra tấn, ép cung, cùng sự hi sinh kiên cường.
Luan van 25 Thể hiện khí phách, bản lĩnh chính trị của cha ông, không chịu mất nước không chịu làm nô lên, khắc hoạ vào chiều sâu tâm linh của các thế hệ hôm nay và mai sau. Cụm phù điêu Lực lượng Vũ Trang Nhân Dân 6 tỉnh Quân Khu 4 (14, tr.74- 77), 2006, của nhà điêu khắc Đoàn Văn Bằng và Lê Lạng Lương, tại Bảo tàng Quân sự Quân khu 4, thành phố Vinh, Nghệ An. 6 bức phù điêu diễn tả những hình ảnh nổi bật của của 6 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An ,Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế được đặt giữa sân lớn của Bảo tàng Quân khu 4. Công trình thể hiện được lòng yêu nước và sự cống hiến của các anh hùng liệt sỹ, của các người mẹ, người chị trong công cuộc kháng chiến cứu nước, khơi dậy cho người xem những địa danh, chiến tích nổi tiếng trên 6 tỉnh miền Trung.
Hun đúc cho thế hệ trẻ lòng yêu nước và tinh thần dân tộc sâu sắc hơn. Hai bức phù điêu tại di tích Truông Bồn (H.70) ,2015,tác giả nhà điêu khắc Phú Cường tại xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, tái hiện hình ảnh cuộc sống, quá trình lao động, chiến đấu, đảm bảo giao thông cho các cán bộ, chiến sĩ và Thanh niên xung phong trên tuyến đường, phần chính của bức phù điêu là Bia ghi danh 1.240 anh hùng liệt sĩ hy sinh tại Truông Bồn.