Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Thị trường tác phẩm mỹ thuật nói chung và thị trường tác phẩm hội họa nói riêng cũng như bất kỳ một lĩnh vực hoạt động kinh tế nào, để có sự phát triển bền vững thì không thể tách rời với những nghiên cứu khoa học.
Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam phát triển bền vững, lành mạnh, đúng nghĩa, phát huy hết tiềm năng sẽ tạo ra một vị thế xứng đáng trong nền CNVH nước nhà, khi những nghiên cứu là liên kết và thể hiện được vai trò của nền tảng cơ sở, chỗ dựa vững chắc cho thị trường này. Những công trình nghiên cứu về mỹ thuật trong đó có đề cập một cách trực diện hay gián tiếp hoặc liên quan tới hội họa Việt Nam có số lượng không nhỏ và tồn tại ở nhiều nguồn lưu trữ với những định dạng khác nhau. Tài liệu NCS đã tiếp cận tại các nguồn lưu trữ như Thư viện quốc gia Việt Nam, Nhà xuất bản Mỹ thuật, thư viện của Bảo tàng mỹ thuật, v. và thư viện ấn phẩm định dạng số trên môi trường intenet để sử dụng cho việc nghiên cứu thực hiện Luận án.
Sẽ không thể tuyệt đối chính xác về số lượng và phân loại những công trình nghiên cứu MTVN đã được công bố, xuất bản bởi một số nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau nhưng những công trình NCS tổng hợp và đề cập sau đây sẽ là những nghiên cứu cơ bản đại diện trong số đó. Tuy nhiều công trình không đề cập trực diện, tập trung tới thị trường tác phẩm hội họa, khi phân loại theo nội dung sẽ không hoàn toàn thuộc trọng tâm nghiên cứu nhưng những dữ liệu đó giúp NCS làm nên tổng quan chung để tìm ra những bất cập làm sáng tỏ những diện nghiên cứu của luận án. Những công trình NCS đã sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và trình bày theo phân loại nội dung gồm: - Lịch sử mỹ thuật cổ Việt Nam là những công trình nghiên cứu về tiến trình phát triển của mỹ thuật dưới thời nhà nước quân chủ qua những công trình kiến trúc, điêu khắc, v. có 78 công trình của các tác giả như: Nguyễn Phi Hoanh (1970) Lược sử Mỹ thuật Việt Nam [45]; Nguyễn Đức Nùng (chủ biên) (1978) Mỹ thuật luan an 10 thời Lê Sơ [68]; Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng (1989) Mỹ thuật của người Việt [75]; Chu Quang Trứ (2001) Mỹ thuật Lý - Trần mỹ thuật Phật giáo [103]; Trịnh Quang Vũ (2002) Lược sử Mỹ thuật Việt Nam [119], v.
Những công trình này có không nhiều nội dung liên quan trực tiếp tới hội họa và thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam hiện đại ngoài những liên quan khi phân tích về thuộc tính dân tộc học, v., của một số họa sĩ sử dụng những mô típ truyền thống trong sáng tạo để chạm tới những miền cảm xúc riêng của người tiếp nhận và trở thành những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam có giá bán cao trên thị trường. - Mỹ thuật dân gian trong dạng thức tranh có 21 công trình khá phổ biến, phần lớn nghiên cứu theo chuyên đề về tranh dân gian Việt Nam. Đó là những dòng tranh khắc gỗ tô màu của một số tác giả như: Phan Ngọc Khuê (1995) Tranh thờ đạo giáo Việt Nam [55]; Maurice Durand (1960, dịch và giới thiệu: Nguyễn Thị Hiệp, Olivier Tessier, tái bản 2017) Tranh dân gian Việt Nam [59]; Nguyễn Thị Thu Hòa và cộng sự (2018) Dòng tranh dân gian Kim Hoàng [47], v. Cũng như những công trình nghiên cứu về mỹ thuật cổ, những công trình nghiên cứu về mỹ thuật dân gian có nội dung chủ yếu đề cập tới những bức tranh mang tính tôn giáo xuất hiện nhiều địa phương của nước ta, đặc biệt ở vùng cao Việt Nam, của tác giả Phan Ngọc Khuê, hay những tranh dân gian khắc gỗ tô màu, tranh Tết, v.
đã trở nên quen thuộc và thường được nhắc đến như những chợ tranh đầu tiên có trong tiềm thức của nhiều người dân Việt Nam của tác giả Chu Quang Trứ, v. Phần lớn những công trình của chuyên đề này ít đề cập thẳng tới những vấn đề về hội họa, thị trường tác phẩm hội họa một cách cụ thể trùng khớp với nội dung nghiên cứu của NCS nhưng đây đều là những công trình đã được nhiều họa sĩ thành danh nghiên cứu vận dụng một cách sáng tạo trong những tác phẩm hội họa, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc và tạo nên thành công của họ. - Lịch sử MTVN hiện đại có số lượng chưa nhiều so với những tác động tới xã hội kể từ khi mỹ thuật hiện đại Việt Nam xuất hiện. Những công trình nghiên cứu về tiến trình phát triển của MTVN hiện đại chủ yếu được xuất bản và công bố qua hình thức xuất bản phẩm chủ yếu là sách in.
Hội họa hiện đại được quan tâm và đề cập nhiều hơn điêu khắc và đồ họa, ngược lại với những công trình nghiên cứu mỹ thuật cổ nhưng những vấn đề về thị trường vẫn không dễ bắt gặp trong những công trình này. 34 công trình của các tác giả như: Trần Khánh Chương (2012) Mỹ luan an 11 thuật Hà Nội thế kỷ XX [14]; Nguyễn Hải Yến (2013) Hội hoạ Hà Nội những ký ức còn lại [121]; Quang Phòng, Quang Việt (2015) Trường Mỹ thuật Đông Dương lịch sử và nghệ thuật [71], v. cung cấp khá bao quát dữ liệu lịch sử với những ghi chép về đời sống, hoạt động mỹ thuật của họa sĩ và một số sáng tác tiêu biểu của họ nhưng cũng ít đề cập tới vấn đề về thị trường. Lịch sử mỹ thuật nhìn từ góc độ thị trường chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt của các nhà nghiên cứu trong nước nên chưa có được những dữ liệu liền mạch, sâu sắc về thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam mà chỉ là những mảnh ghép mỏng và rời rạc do việc bán, giá bán tranh của người họa sĩ luôn là những vấn đề riêng tư ít được cởi mở.
- Kỹ năng, kỹ thuật chuyên môn về sáng tác, thực hành nghệ thuật hội họa có nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, xuất bản nhiều hơn đồ họa và điêu khắc nhưng nhìn chung số lượng còn chưa nhiều. Một số tác giả tiêu biểu có công trình đã được phổ biến đến công chúng trong thời gian qua như: Đặng Ngọc Trân (2000) Cấu trúc hội họa [101]; Phạm Đức Cường (2003) Kỹ thuật sơn mài [27]; Nguyễn Quân (2006) Ngôn ngữ của hình và màu sắc [77]; Nguyễn Đình Đăng (2018) Kỹ thuật vẽ sơn dầu [35], v. Đây là những công trình nghiên cứu có nội dung đề cập tới vấn đề chuyên môn sâu, gắn với hoạt động đào tạo, giảng dạy hội họa, kỹ năng nghề nghiệp, thực hành sáng tạo, v., nhưng lại ánh xạ ở góc nhìn khác của sản phẩm sáng tạo của người họa sĩ khi tham gia hoạt động thị trường nên rất cần thiết cho việc nâng cao kiến thức hỗ trợ cho những đối tượng liên quan ở lĩnh vực khác như người quản lý, truyền thông, thụ hưởng, v. trong việc xây dựng chính sách, quảng bá giới thiệu, nhận định đánh giá về tranh thật, giả, v.
có trong phần phân tích ở chương sau của Luận án. Ngoài ra còn có những nghiên cứu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo, giảng, dạy mỹ thuật chuyên môn ở các bậc học phổ thông và các trường nghề có số lượng khá lớn được nhiều tác giả biên soạn thành sách xuất bản trong thời gian qua lại không thuộc phạm vi NCS nghiên cứu. - Vựng tập tranh theo chuyên đề được in theo dạng thức tổng hợp, thống kê để giới thiệu những tác phẩm hội họa tiêu biểu thuộc các bộ sưu tập hoặc là tác phẩm đã được chọn tham dự các kỳ triển lãm mỹ thuật được tổ chức tại Việt Nam, ra nước ngoài, v. được biên tập, chọn lọc để xuất bản và phổ biến bởi các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ VHTTDL, Hội MTVN, v.
có số lượng 84 cuốn như: Tuyển tập Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX [9]; Mỹ thuật Việt Nam luan an 12 hiện đại [105]; 70 năm Mỹ thuật Việt Nam (1945-2015) [48], Tuyển tập mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20; 20 năm Mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986-2006 [115], v. Nhìn chung, những ấn phẩm này (trừ một số ấn phẩm của Bảo tàng MTVN) thường không dành nhiều không gian cho phần lý luận, nghiên cứu phê bình cũng như phân tích, đánh giá, v.v mà thường sau lời mở hay giới thiệu chủ yếu là phần ảnh chụp tranh có kèm theo thông tin trích lược ngắn gọn về tác giả, tác phẩm. Tương tự như vậy, nhiều tổ chức, cá nhân tự thực hiện việc biên tập xuất bản và phổ biến vựng tập tranh theo nhu cầu của mình, số lượng đến nay trên thực tế là rất nhiều (NCS có 38 cuốn sách in) như: Lưu Công Nhân (1995) Lưu Công Nhân [64]; Uyên Huy (2011) Một thoáng cái tôi [51]; Phạm Luận (2014) Phạm Luận [58]; Tạ Quang Bạo (2014) Điêu khắc Tạ Quang Bạo [6], v. Mặc dù phần nghiên cứu, lý luận hay phê bình hay miêu tả chi tiết, quá trình sáng tạo tác phẩm trong những công trình này không nhiều nhưng những cuốn sách tranh này lại đáp ứng được một số những yếu tố quan trọng khi ở môi trường khác mà những người thực hiện chúng ban đầu cũng không hoàn toàn tính đến khi xuất bản.
Ví dụ, yếu tố lịch sử, yếu tố bản quyền, v. Những công trình này đã không chỉ có chức năng phổ biến như đem tác phẩm hội họa đến gần với công chúng hơn, v. mà còn là chỗ dựa đáng tin cậy, được xem như là thành phần hồ sơ quan trọng khi cần so sánh, đối chiếu, xem xét như yếu tố cơ sở làm căn cứ xác định tính chân bản của tác phẩm hội họa trong nhiều lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là hoạt động giao thương. Vì những lý do như vậy, sách của một tác giả, nhóm tác giả đã nổi tiếng hoặc bộ sưu tập có tranh đạt giá trị cao trên thị trường được tổ chức, cá nhân nhà sưu tập hay người mua đầu tư tranh, v.
đặt hàng, thuê biên tập để thực hiện cho nhiều mục đích của người sở hữu gần đây xuất hiện nhiều hơn (25 cuốn). Phần lớn trong số sách đó được thực hiện theo cách làm chuyên nghiệp, có hình thức đẹp, lý lịch tranh do người sở hữu cung cấp, gắn với môi trường lịch sử cùng một vài câu chuyện, có cả những chuyện chưa được kiểm chứng.