Khám Phá Thị Trường Tác Phẩm Hội Họa Việt Nam Từ Năm 1986 Đến Nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thị trường tác phẩm hội họa việt nam từ năm 1986 đến nay the painting market in vietnam from 1986, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

240
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Giả thuyết nghiên cứu

1.5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

1.7. Bố cục của luận án

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÁC PHẨM HỘI HỌA

3. CHƯƠNG 3: PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÁC PHẨM HỘI HỌA, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thị trường nghệ thuật hội họa Việt Nam

Thị trường nghệ thuật hội họa Việt Nam đã trải qua nhiều biến động từ năm 1986 đến nay. Sự chuyển mình này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong nền kinh tế mà còn là sự phát triển của văn hóa nghệ thuật. Nghệ thuật hội họa không chỉ là sản phẩm của sự sáng tạo mà còn là một phần quan trọng trong ngành nghệ thuật. Từ những năm 90, khi Đổi Mới diễn ra, thị trường hội họa bắt đầu hình thành với sự xuất hiện của nhiều nghệ sĩ Việt Nam nổi bật. Tuy nhiên, thị trường này vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt là về vấn đề bản quyền và sự phát triển bền vững. Theo một nghiên cứu, “Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam vẫn chưa phát triển đúng với tiềm năng của nó” [121, tr.]. Điều này cho thấy cần có những giải pháp cụ thể để thúc đẩy sự phát triển của thị trường này.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Thị trường nghệ thuật hội họa Việt Nam bắt đầu hình thành từ những năm 1925 với sự ra đời của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Đây là nơi đầu tiên đào tạo các nghệ sĩ và tạo ra những tác phẩm hội họa có giá trị. Tuy nhiên, sau nhiều năm chiến tranh, hoạt động nghệ thuật bị gián đoạn. Đến những năm 90, thị trường hội họa mới bắt đầu phục hồi và phát triển. Sự xuất hiện của các triển lãm hội họagallery đã tạo ra một không gian cho các nghệ sĩ thể hiện tài năng và kết nối với công chúng. Tuy nhiên, thị trường vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là về giá trị nghệ thuậtgiá trị kinh tế của các tác phẩm.

II. Thực trạng thị trường tác phẩm hội họa

Thực trạng thị trường tác phẩm hội họa hiện nay cho thấy sự phát triển không đồng đều. Mặc dù có nhiều tác phẩm nghệ thuật được sản xuất và tiêu thụ, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề như giá trị nghệ thuật không được công nhận đúng mức. Nhiều nghệ sĩ Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường quốc tế. Theo một nghiên cứu, “Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam vẫn còn nhiều bất ổn và thiếu minh bạch” [121, tr.]. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của thị trường. Các yếu tố như bản quyền, quản lý nhà nướcsự tham gia của công chúng cần được cải thiện để tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của thị trường hội họa.

2.1. Người tiêu thụ tác phẩm hội họa

Người tiêu thụ tác phẩm hội họa đóng vai trò quan trọng trong việc định hình thị trường. Họ không chỉ là người mua mà còn là những người góp phần tạo ra giá trị cho các tác phẩm. Tuy nhiên, nhận thức của công chúng về nghệ thuật vẫn còn hạn chế. Nhiều người chưa hiểu rõ về giá trị của các tác phẩm hội họa, dẫn đến việc tiêu thụ không hiệu quả. Theo một khảo sát, “Nhiều người tiêu dùng vẫn chưa có thói quen tìm hiểu về bản quyền và nguồn gốc của tác phẩm” [121, tr.]. Điều này cho thấy cần có những chương trình giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức của công chúng về nghệ thuật hội họa.

III. Định hướng và giải pháp phát triển thị trường

Để phát triển thị trường tác phẩm hội họa một cách bền vững, cần có những định hướng và giải pháp cụ thể. Một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao nhận thức về bản quyềngiá trị nghệ thuật. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức nghệ thuật để xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của thị trường. Theo một chuyên gia, “Việc thực thi bản quyền là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của thị trường nghệ thuật” [121, tr.]. Ngoài ra, cần có các chương trình hỗ trợ cho nghệ sĩ trong việc tiếp cận thị trường quốc tế và phát triển các kênh phân phối tác phẩm.

3.1. Tăng cường quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển thị trường tác phẩm hội họa. Cần có các chính sách cụ thể để hỗ trợ nghệ sĩ và bảo vệ bản quyền tác phẩm. Theo một nghiên cứu, “Chính sách quản lý cần phải linh hoạt và phù hợp với thực tiễn của thị trường” [121, tr.]. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của thị trường hội họa, đồng thời nâng cao giá trị của các tác phẩm nghệ thuật trong mắt công chúng và nhà đầu tư.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ thị trường tác phẩm hội họa việt nam từ năm 1986 đến nay the painting market in vietnam from 1986 to present

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Thị trường tác phẩm mỹ thuật nói chung và thị trường tác phẩm hội họa nói riêng cũng như bất kỳ một lĩnh vực hoạt động kinh tế nào, để có sự phát triển bền vững thì không thể tách rời với những nghiên cứu khoa học.

Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam phát triển bền vững, lành mạnh, đúng nghĩa, phát huy hết tiềm năng sẽ tạo ra một vị thế xứng đáng trong nền CNVH nước nhà, khi những nghiên cứu là liên kết và thể hiện được vai trò của nền tảng cơ sở, chỗ dựa vững chắc cho thị trường này. Những công trình nghiên cứu về mỹ thuật trong đó có đề cập một cách trực diện hay gián tiếp hoặc liên quan tới hội họa Việt Nam có số lượng không nhỏ và tồn tại ở nhiều nguồn lưu trữ với những định dạng khác nhau. Tài liệu NCS đã tiếp cận tại các nguồn lưu trữ như Thư viện quốc gia Việt Nam, Nhà xuất bản Mỹ thuật, thư viện của Bảo tàng mỹ thuật, v. và thư viện ấn phẩm định dạng số trên môi trường intenet để sử dụng cho việc nghiên cứu thực hiện Luận án.

Sẽ không thể tuyệt đối chính xác về số lượng và phân loại những công trình nghiên cứu MTVN đã được công bố, xuất bản bởi một số nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau nhưng những công trình NCS tổng hợp và đề cập sau đây sẽ là những nghiên cứu cơ bản đại diện trong số đó. Tuy nhiều công trình không đề cập trực diện, tập trung tới thị trường tác phẩm hội họa, khi phân loại theo nội dung sẽ không hoàn toàn thuộc trọng tâm nghiên cứu nhưng những dữ liệu đó giúp NCS làm nên tổng quan chung để tìm ra những bất cập làm sáng tỏ những diện nghiên cứu của luận án. Những công trình NCS đã sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và trình bày theo phân loại nội dung gồm: - Lịch sử mỹ thuật cổ Việt Nam là những công trình nghiên cứu về tiến trình phát triển của mỹ thuật dưới thời nhà nước quân chủ qua những công trình kiến trúc, điêu khắc, v. có 78 công trình của các tác giả như: Nguyễn Phi Hoanh (1970) Lược sử Mỹ thuật Việt Nam [45]; Nguyễn Đức Nùng (chủ biên) (1978) Mỹ thuật luan an 10 thời Lê Sơ [68]; Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng (1989) Mỹ thuật của người Việt [75]; Chu Quang Trứ (2001) Mỹ thuật Lý - Trần mỹ thuật Phật giáo [103]; Trịnh Quang Vũ (2002) Lược sử Mỹ thuật Việt Nam [119], v.

Những công trình này có không nhiều nội dung liên quan trực tiếp tới hội họa và thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam hiện đại ngoài những liên quan khi phân tích về thuộc tính dân tộc học, v., của một số họa sĩ sử dụng những mô típ truyền thống trong sáng tạo để chạm tới những miền cảm xúc riêng của người tiếp nhận và trở thành những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam có giá bán cao trên thị trường. - Mỹ thuật dân gian trong dạng thức tranh có 21 công trình khá phổ biến, phần lớn nghiên cứu theo chuyên đề về tranh dân gian Việt Nam. Đó là những dòng tranh khắc gỗ tô màu của một số tác giả như: Phan Ngọc Khuê (1995) Tranh thờ đạo giáo Việt Nam [55]; Maurice Durand (1960, dịch và giới thiệu: Nguyễn Thị Hiệp, Olivier Tessier, tái bản 2017) Tranh dân gian Việt Nam [59]; Nguyễn Thị Thu Hòa và cộng sự (2018) Dòng tranh dân gian Kim Hoàng [47], v. Cũng như những công trình nghiên cứu về mỹ thuật cổ, những công trình nghiên cứu về mỹ thuật dân gian có nội dung chủ yếu đề cập tới những bức tranh mang tính tôn giáo xuất hiện nhiều địa phương của nước ta, đặc biệt ở vùng cao Việt Nam, của tác giả Phan Ngọc Khuê, hay những tranh dân gian khắc gỗ tô màu, tranh Tết, v.

đã trở nên quen thuộc và thường được nhắc đến như những chợ tranh đầu tiên có trong tiềm thức của nhiều người dân Việt Nam của tác giả Chu Quang Trứ, v. Phần lớn những công trình của chuyên đề này ít đề cập thẳng tới những vấn đề về hội họa, thị trường tác phẩm hội họa một cách cụ thể trùng khớp với nội dung nghiên cứu của NCS nhưng đây đều là những công trình đã được nhiều họa sĩ thành danh nghiên cứu vận dụng một cách sáng tạo trong những tác phẩm hội họa, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc và tạo nên thành công của họ. - Lịch sử MTVN hiện đại có số lượng chưa nhiều so với những tác động tới xã hội kể từ khi mỹ thuật hiện đại Việt Nam xuất hiện. Những công trình nghiên cứu về tiến trình phát triển của MTVN hiện đại chủ yếu được xuất bản và công bố qua hình thức xuất bản phẩm chủ yếu là sách in.

Hội họa hiện đại được quan tâm và đề cập nhiều hơn điêu khắc và đồ họa, ngược lại với những công trình nghiên cứu mỹ thuật cổ nhưng những vấn đề về thị trường vẫn không dễ bắt gặp trong những công trình này. 34 công trình của các tác giả như: Trần Khánh Chương (2012) Mỹ luan an 11 thuật Hà Nội thế kỷ XX [14]; Nguyễn Hải Yến (2013) Hội hoạ Hà Nội những ký ức còn lại [121]; Quang Phòng, Quang Việt (2015) Trường Mỹ thuật Đông Dương lịch sử và nghệ thuật [71], v. cung cấp khá bao quát dữ liệu lịch sử với những ghi chép về đời sống, hoạt động mỹ thuật của họa sĩ và một số sáng tác tiêu biểu của họ nhưng cũng ít đề cập tới vấn đề về thị trường. Lịch sử mỹ thuật nhìn từ góc độ thị trường chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt của các nhà nghiên cứu trong nước nên chưa có được những dữ liệu liền mạch, sâu sắc về thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam mà chỉ là những mảnh ghép mỏng và rời rạc do việc bán, giá bán tranh của người họa sĩ luôn là những vấn đề riêng tư ít được cởi mở.

- Kỹ năng, kỹ thuật chuyên môn về sáng tác, thực hành nghệ thuật hội họa có nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, xuất bản nhiều hơn đồ họa và điêu khắc nhưng nhìn chung số lượng còn chưa nhiều. Một số tác giả tiêu biểu có công trình đã được phổ biến đến công chúng trong thời gian qua như: Đặng Ngọc Trân (2000) Cấu trúc hội họa [101]; Phạm Đức Cường (2003) Kỹ thuật sơn mài [27]; Nguyễn Quân (2006) Ngôn ngữ của hình và màu sắc [77]; Nguyễn Đình Đăng (2018) Kỹ thuật vẽ sơn dầu [35], v. Đây là những công trình nghiên cứu có nội dung đề cập tới vấn đề chuyên môn sâu, gắn với hoạt động đào tạo, giảng dạy hội họa, kỹ năng nghề nghiệp, thực hành sáng tạo, v., nhưng lại ánh xạ ở góc nhìn khác của sản phẩm sáng tạo của người họa sĩ khi tham gia hoạt động thị trường nên rất cần thiết cho việc nâng cao kiến thức hỗ trợ cho những đối tượng liên quan ở lĩnh vực khác như người quản lý, truyền thông, thụ hưởng, v. trong việc xây dựng chính sách, quảng bá giới thiệu, nhận định đánh giá về tranh thật, giả, v.

có trong phần phân tích ở chương sau của Luận án. Ngoài ra còn có những nghiên cứu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo, giảng, dạy mỹ thuật chuyên môn ở các bậc học phổ thông và các trường nghề có số lượng khá lớn được nhiều tác giả biên soạn thành sách xuất bản trong thời gian qua lại không thuộc phạm vi NCS nghiên cứu. - Vựng tập tranh theo chuyên đề được in theo dạng thức tổng hợp, thống kê để giới thiệu những tác phẩm hội họa tiêu biểu thuộc các bộ sưu tập hoặc là tác phẩm đã được chọn tham dự các kỳ triển lãm mỹ thuật được tổ chức tại Việt Nam, ra nước ngoài, v. được biên tập, chọn lọc để xuất bản và phổ biến bởi các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ VHTTDL, Hội MTVN, v.

có số lượng 84 cuốn như: Tuyển tập Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX [9]; Mỹ thuật Việt Nam luan an 12 hiện đại [105]; 70 năm Mỹ thuật Việt Nam (1945-2015) [48], Tuyển tập mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20; 20 năm Mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986-2006 [115], v. Nhìn chung, những ấn phẩm này (trừ một số ấn phẩm của Bảo tàng MTVN) thường không dành nhiều không gian cho phần lý luận, nghiên cứu phê bình cũng như phân tích, đánh giá, v.v mà thường sau lời mở hay giới thiệu chủ yếu là phần ảnh chụp tranh có kèm theo thông tin trích lược ngắn gọn về tác giả, tác phẩm. Tương tự như vậy, nhiều tổ chức, cá nhân tự thực hiện việc biên tập xuất bản và phổ biến vựng tập tranh theo nhu cầu của mình, số lượng đến nay trên thực tế là rất nhiều (NCS có 38 cuốn sách in) như: Lưu Công Nhân (1995) Lưu Công Nhân [64]; Uyên Huy (2011) Một thoáng cái tôi [51]; Phạm Luận (2014) Phạm Luận [58]; Tạ Quang Bạo (2014) Điêu khắc Tạ Quang Bạo [6], v. Mặc dù phần nghiên cứu, lý luận hay phê bình hay miêu tả chi tiết, quá trình sáng tạo tác phẩm trong những công trình này không nhiều nhưng những cuốn sách tranh này lại đáp ứng được một số những yếu tố quan trọng khi ở môi trường khác mà những người thực hiện chúng ban đầu cũng không hoàn toàn tính đến khi xuất bản.

Ví dụ, yếu tố lịch sử, yếu tố bản quyền, v. Những công trình này đã không chỉ có chức năng phổ biến như đem tác phẩm hội họa đến gần với công chúng hơn, v. mà còn là chỗ dựa đáng tin cậy, được xem như là thành phần hồ sơ quan trọng khi cần so sánh, đối chiếu, xem xét như yếu tố cơ sở làm căn cứ xác định tính chân bản của tác phẩm hội họa trong nhiều lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là hoạt động giao thương. Vì những lý do như vậy, sách của một tác giả, nhóm tác giả đã nổi tiếng hoặc bộ sưu tập có tranh đạt giá trị cao trên thị trường được tổ chức, cá nhân nhà sưu tập hay người mua đầu tư tranh, v.

đặt hàng, thuê biên tập để thực hiện cho nhiều mục đích của người sở hữu gần đây xuất hiện nhiều hơn (25 cuốn). Phần lớn trong số sách đó được thực hiện theo cách làm chuyên nghiệp, có hình thức đẹp, lý lịch tranh do người sở hữu cung cấp, gắn với môi trường lịch sử cùng một vài câu chuyện, có cả những chuyện chưa được kiểm chứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khám Phá Thị Trường Tác Phẩm Hội Họa Việt Nam Từ Năm 1986 Đến Nay" của Đỗ Quốc Việt, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Chí Bền, mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và biến đổi của thị trường hội họa Việt Nam từ năm 1986 cho đến nay. Tác phẩm không chỉ phân tích các xu hướng nghệ thuật mà còn khám phá các yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của thị trường này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà nghệ thuật hội họa đã phản ánh và thích ứng với bối cảnh lịch sử và kinh tế của đất nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực nghệ thuật, bạn có thể tham khảo bài viết "Khám Phá Yếu Tố Lãng Mạn Trong Tác Phẩm Hội Họa Việt Nam Giai Đoạn 1945-1975", nơi phân tích các yếu tố lãng mạn trong nghệ thuật hội họa trong bối cảnh chiến tranh cách mạng. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ về văn hóa hội họa Việt Nam giai đoạn 1925-1945" sẽ cung cấp cái nhìn lịch sử về sự phát triển của hội họa Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 20. Cuối cùng, bài viết "Khám Phá Nghệ Thuật Trang Trí Trên Di Vật Đồ Đồng Tại Quần Thể Di Tích Cố Đô Huế" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nghệ thuật trang trí trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, đặc biệt là tại cố đô Huế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về nghệ thuật và văn hóa Việt Nam.