Luận án tiến sĩ đời sống văn hóa của cư dân ven biển hà tĩnh thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa

Luận án tiến sĩ khám phá đời sống văn hóa cư dân ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm rõ biến đổi và giá trị văn hóa truyền thống.

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2015

250
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHÁI QUÁT VỀ VÙNG VEN BIỂN HÀ TĨNH

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Khái quát về vùng ven biển Hà Tĩnh

1.3. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH QUA TÍN NGƯỠNG, LỄ HỘI, PHONG TỤC

2.1. Phong tục

2.2. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH QUA TIÊU DÙNG VĂN HÓA

3.1. Các phương tiện tiêu dùng văn hóa

3.2. Nhu cầu tiêu dùng văn hóa

3.3. Mức độ tiêu dùng văn hóa

3.4. Nội dung tiêu dùng văn hóa

3.5. Tiểu kết

4. CHƯƠNG 4: XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

4.1. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiếp tục được đẩy mạnh ở vùng ven biển Hà Tĩnh

4.2. Xu hướng biến đổi đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh

4.3. Những vấn đề đặt ra

4.4. Tiểu kết

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập trung vào việc tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu trước đây về đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh. Các nghiên cứu này bao gồm các tài liệu lịch sử, địa lý, và văn hóa, giúp cung cấp cái nhìn toàn diện về vùng ven biển Hà Tĩnh trong bối cảnh thời kỳ công nghiệp hóahiện đại hóa. Các tác giả như Bùi Dương Lịch, Đào Duy Anh, và Lê Bá Thảo đã đề cập đến địa hình, lịch sử, và văn hóa của Hà Tĩnh, đặc biệt là các huyện ven biển như Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, và Thạch Hà. Những nghiên cứu này làm nền tảng cho việc hiểu rõ hơn về sự biến đổi văn hóa cư dân trong thời kỳ hiện đại.

1.1. Các công trình viết về vùng ven biển Hà Tĩnh

Các công trình như Đại Nam nhất thống chíNghệ An ký đã mô tả chi tiết về địa hình, lịch sử, và văn hóa của ven biển Hà Tĩnh. Những tài liệu này cung cấp thông tin về các cửa biển quan trọng như cửa Hội, cửa Sót, và cửa Nhượng, cũng như các nghề truyền thống liên quan đến biển như đánh cá và làm muối. Những nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về sự gắn kết giữa cư dân ven biển và môi trường biển, từ đó làm nền tảng cho việc phân tích sự biến đổi văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa.

1.2. Các công trình viết về cư dân ven biển Hà Tĩnh

Các công trình như An - Tĩnh cổ lụcBiển với người Việt cổ đã khám phá lịch sử lâu đời của cư dân ven biển Hà Tĩnh, từ thời tiền sử đến hiện đại. Những nghiên cứu này chỉ ra rằng cư dân ven biển đã sớm biết khai thác tài nguyên biển để sinh tồn, tạo nên những nét văn hóa đặc trưng. Những thông tin này giúp hiểu rõ hơn về sự biến đổi đời sống văn hóa của cư dân Hà Tĩnh trong bối cảnh công nghiệp hóahiện đại hóa.

II. Thực trạng đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh

Chương này tập trung vào việc phân tích thực trạng đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh qua các yếu tố như tín ngưỡng, lễ hội, và phong tục. Những yếu tố này phản ánh sự gắn kết giữa cư dân và môi trường biển, đồng thời cho thấy sự biến đổi trong văn hóa cư dân dưới tác động của công nghiệp hóahiện đại hóa. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có sự thay đổi, nhiều giá trị truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy.

2.1. Tín ngưỡng và lễ hội

Tín ngưỡng và lễ hội là những yếu tố quan trọng trong đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, các lễ hội như lễ hội cầu ngư và tín ngưỡng thờ cá Ông vẫn được duy trì, mặc dù có sự thay đổi về hình thức và quy mô. Những yếu tố này phản ánh sự gắn kết giữa cư dân và biển, đồng thời cho thấy sự biến đổi trong văn hóa cư dân dưới tác động của công nghiệp hóahiện đại hóa.

2.2. Phong tục và tập quán

Phong tục và tập quán của cư dân ven biển Hà Tĩnh cũng có sự biến đổi đáng kể trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có sự thay đổi trong lối sống và sinh hoạt, nhiều phong tục truyền thống vẫn được bảo tồn. Những yếu tố này phản ánh sự gắn kết giữa cư dân và biển, đồng thời cho thấy sự biến đổi trong văn hóa cư dân dưới tác động của công nghiệp hóahiện đại hóa.

III. Xu hướng biến đổi đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh

Chương này tập trung vào việc phân tích xu hướng biến đổi trong đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh dưới tác động của công nghiệp hóahiện đại hóa. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, sự biến đổi này bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực, với sự gia tăng của các yếu tố hiện đại và sự suy giảm của các giá trị truyền thống. Những vấn đề đặt ra bao gồm việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu các yếu tố văn hóa hiện đại một cách có chọn lọc.

3.1. Sự biến đổi trong tín ngưỡng và lễ hội

Sự biến đổi trong tín ngưỡng và lễ hội của cư dân ven biển Hà Tĩnh phản ánh sự thay đổi trong đời sống văn hóa dưới tác động của công nghiệp hóahiện đại hóa. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có sự thay đổi về hình thức và quy mô, nhiều giá trị truyền thống vẫn được bảo tồn. Những yếu tố này phản ánh sự gắn kết giữa cư dân và biển, đồng thời cho thấy sự biến đổi trong văn hóa cư dân dưới tác động của công nghiệp hóahiện đại hóa.

3.2. Sự biến đổi trong phong tục và tập quán

Sự biến đổi trong phong tục và tập quán của cư dân ven biển Hà Tĩnh cũng phản ánh sự thay đổi trong đời sống văn hóa dưới tác động của công nghiệp hóahiện đại hóa. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có sự thay đổi trong lối sống và sinh hoạt, nhiều phong tục truyền thống vẫn được bảo tồn. Những yếu tố này phản ánh sự gắn kết giữa cư dân và biển, đồng thời cho thấy sự biến đổi trong văn hóa cư dân dưới tác động của công nghiệp hóahiện đại hóa.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đời sống văn hóa của cư dân ven biển hà tĩnh thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án chia làm 4 chương: Chƣơng 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, khái quát về vùng ven biển Hà Tĩnh Chƣơng 2: Thực trạng đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh qua tín ngưỡng, lễ hội, phong tục Chƣơng 3: Thực trạng đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh qua tiêu dùng văn hoá Chƣơng 4: Xu hướng biến đổi đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những vấn đề đặt ra 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ VÙNG VEN BIỂN HÀ TĨNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hà Tĩnh, được mệnh danh là vùng “địa linh, nhân kiệt”, mang nhiều nét đặc trưng về địa lý, tự nhiên, đã sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, nhiều nhà khoa học lớn của đất nước… Nơi đây cũng đã lắng đọng nhiều giá trị văn hoá dân tộc, kết hợp với đặc trưng vùng, tạo nên một Hà Tĩnh khác với các vùng, miền trong cả nước,… Trong thời kỳ CNH, HĐH, Hà Tĩnh là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của đất nước. Thế nhưng, những nghiên cứu về Hà Tĩnh, về văn hoá Hà Tĩnh thời hiện đại còn là một khoảng trống, đặc biệt còn thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hoá vùng ven biển Hà Tĩnh. Đây là vùng mà hiện nay đang có nhiều biến đổi trước những chủ trương lớn của Đảng, chiến lược phát triển mới của đất nước.

Tuy vậy, vẫn có thể tìm thấy những nội dung có liên quan đến đề tài luận án trong các công trình nghiên cứu đi trước để NCS có thể tiếp thu, kế thừa, tìm ra cái mới. Vấn đề này, NCS xin được tổng hợp, phân tích, chia làm ba nhóm nội dung cụ thể như sau: 1. Các công trình viết về vùng ven biển Hà Tĩnh Đại Nam nhất thống chí, tập 2 [59] (Quốc sử quán triều Nguyễn), viết về đạo Hà Tĩnh, chỉ có ba huyện nhưng cả ba huyện đều có phía đông giáp biển, đó là: Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (đạo Hà Tĩnh lúc đó chỉ có ba huyện). Vì vậy, Hà Tĩnh khi đó chỉ có hai cửa biển là cửa Nhượng và cửa Khẩu, cả hai cửa biển đều nắm giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước.

Về địa hình của Hà Tĩnh, Đại Nam nhất thống chí nhận định: dài và hẹp “Xung quanh là núi giáp biển. Chiều nam bắc dài mà chiều đông tây ngắn, từ biển lên núi chỉ nửa ngày đường”[59, tr. Bùi Dương Lịch trong công trình Nghệ An ký [49] gồm hai quyển viết về Thiên chí, Địa chí và Nhân chí trên đất Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh ngày nay). Trong công trình này tác giả đã đề cập đến núi, sông và các cửa biển của Hà Tĩnh, 12 là cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhượng và cửa Khẩu (trong tổng số 12 cửa biển của Nghệ An thời đó).

Tuy nhiên, về các ngọn núi được đề cập trong công trình này, ngày nay tên gọi đã khác và địa giới hành chính giữa các xã, huyện của tỉnh Hà Tĩnh ngày nay đã có nhiều thay đổi. Đất nước Việt Nam qua các đời [1] của Đào Duy Anh (các trang 194-195; 208-209) ghi chép về sự thay đổi phạm vi hành chính của tỉnh Hà Tĩnh dưới thời Minh Mệnh và Tự Đức (những năm 1822-1852). Ở thời điểm đó, tỉnh Hà Tĩnh chỉ có hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa (bao gồm Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh ngày nay), hai huyện Cam Môn, Cam Cớt (của nước Lào) thuộc trấn Đinh Lệ phủ Đức Thọ. Về sau hai huyện Cam Môn, Cam Cớt thuộc lãnh thổ nước Lào (như ngày nay) và tỉnh Hà Tĩnh về sau gồm có các huyện: Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Nghi Xuân, Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ và phủ Hà Thanh (Hà Hoa).

Phong thổ ký các huyện tỉnh Hà Tĩnh [56] (nhiều tác giả), giới thiệu rất khái quát các huyện thuộc tỉnh Hà Tĩnh (lúc đó chưa có huyện Vũ Quang và huyện Lộc Hà như hiện nay) về các mặt: Lịch sử, địa dư, sơn lĩnh, sông hói (những lạch nước nhỏ, khe nước nhỏ, nhánh nhỏ của dòng sông), nhân dân (nhân vật lịch sử), đường sá,… Cho biết bốn huyện Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (4/5 huyện ven biển của Hà Tĩnh hiện nay), có phía đông giáp biển. Đặc biệt Phong thổ ký các huyện tỉnh Hà Tĩnh đã đề cập đến nghề biển và một số nghề có liên quan đến biển ở bốn huyện này, như: nghề tết buồm cói ở Yên Hội, nghề nước mắm ở Cương Gián (huyện Nghi Xuân), làm cá, làm muối (huyện Cẩm Xuyên), đánh cá, đan lưới (huyện kỳ Anh), làm muối ở Hộ Độ, làm nước Mắm ở cửa Sót (thuộc hai xã Hộ Độ và Thạch Kim của huyện Lộc Hà ngày nay). Địa chí Cẩm Nhượng [48] (Phạm Lê chủ biên), khái quát lên bức tranh toàn cảnh về xã cửa biển Cẩm Nhượng, từ cảnh quan thiên nhiên đến các phong tục tập quán, tín ngưỡng lễ hội, phương thức đánh bắt, các ngành nghề chủ yếu của cư dân xã Cẩm Nhượng từ những năm trước 1945 cho đến thời kỳ Đổi mới (1986),… Đây là nguồn tư liệu quý, NCS sử dụng để so sánh đối chiếu với những biến đổi đời sống văn hoá cư dân của xã Cẩm Nhượng ngày nay, và đối chiếu, so sánh với 34 xã ven 13 biển khác của Hà Tĩnh. Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý [65] của tác giả Lê Bá Thảo, đề cập đến địa lý, địa hình của các khu vực trong cả nước, đưa ra nhận định về miền Trung và ven biển miền Trung (trong đó có Hà Tĩnh) rằng: đây là vùng có chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng, điều kiện tự nhiên có nhiều khó khăn, về tài nguyên thiên nhiên “những tài nguyên với tới được thì không thật giàu hoặc đã bị phá hoại gần hết, có những tài nguyên có tiềm năng lớn, thí dụ như tài nguyên hải sản hoặc khoáng sản thì điều kiện khai thác khó khăn” [65, tr.

Như vậy, các công trình nghiên cứu đi trước trên đây đã cho biết địa danh một số huyện giáp biển của Hà Tĩnh, cũng như các cửa biển thuộc về Hà Tĩnh xưa và nay. Tuy nhiên số liệu không còn phù hợp, vì hiện nay các huyện của Hà Tĩnh đã khác. Các công trình viết về cư dân ven biển Hà Tĩnh Cư dân ven biển Hà Tĩnh đã được đề cập khá sớm ở một số công trình của các học giả trong và ngoài nước. Trước hết phải kể đến An - Tĩnh cổ lục [37] của Hippolyte le Breton, gồm hai thiên, trong đó một thiên viết về người tiền sử trên mảnh đất An - Tĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh).

Từ những di vật tìm thấy ở các di chỉ khảo cổ học, Hippolyte le Breton khẳng định: tất cả những “di vật đồ ăn thừa”ở vùng An - Tĩnh thuộc thời đại đồ đá mới và con người thời đại đồ đá mới chỉ xuất hiện ở các đồng bằng ven biển của An - Tĩnh và Quảng Bình, đó chính là cư dân Bàu Tró, nhóm cư dân này ngoài bắt các nhuyễn thể ở các đầm phá ven biển và sông hồ để ăn, đã tiến hành đánh bắt các loài cá ở biển, với dấu tích để lại ở các di chỉ khảo cổ học có xương của các loại cá biển rất lớn. Thiên thứ hai trong An - Tĩnh cổ lục, Hippolyte le Breton ghi chép những danh lam thắng cảnh và những di tích mang tính chất truyền thuyết và lịch sử của vùng An - Tĩnh xưa, có nhắc đến núi Nam Giới (biên giới phía nam nước ta với Chiêm Thành vào thế kỷ thứ VII-X, một ngọn núi giáp biển thuộc huyện Thạch Hà ngày nay), đền Lê Khôi (ở cửa Sót – huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh) và bốn cửa biển của Hà Tĩnh hiện nay (thuộc An - Tĩnh hồi đó) là cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhượng, cửa Khẩu,… 14 Biển với người Việt cổ [19] công trình của Viện nghiên cứu Đông Nam Á, nghiên cứu về người Việt cổ với việc khai thác tài nguyên sinh vật biển. Những kết quả nghiên cứu của công trình đã cung cấp cái nhìn lịch đại để nhận thấy người Việt thời tiền, sơ sử cho đến thời kỳ độc lập tự chủ và kể cả ngày nay luôn có mối quan hệ khăng khít không tách rời biển. Vì vậy, mối quan hệ giữa người Việt với biển được xem như là một tất yếu, khi mà đất nước Việt Nam có chiều dài bờ biển lên tới 3.260km, các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ trong đất liền, lại nằm trên trục đường giao thông của ngã ba Đông Nam Á, thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, một vị trí chiến lược quan trọng cho sự phát triển kinh tế - chính trị - quân sự - văn hoá - xã hội, vị trí chiến lược cho việc “tiến ra biển”,.

Do đó, việc cư dân Việt sớm tiếp cận với biển theo các tác giả là một tất yếu. Công trình nghiên cứu này còn cung cấp những thông tin cho thấy ở Hà Tĩnh vào thời tiền sử (Đồ đá mới) có hai nhóm cư dân cư trú đã biết khai thác tài nguyên sinh vật biển để sinh tồn, mặc dù chưa phải là chuyên hoá nghề biển, nhưng đã biết khai thác biển bên cạnh sản xuất nông nghiệp và săn bắn, đó là cư dân của văn hoá Quỳnh Văn với dấu vết để lại là di chỉ Phái Nam (Thạch Lâm - Thạch Hà) và cư dân của văn hoá Bàu Tró - Thạch Lạc (Thạch Hà) với dấu vết để lại là 13 địa điểm khảo cổ học trên đất Hà Tĩnh. Từ những nghiên cứu này cho thấy cư dân tiền trú ở Hà Tĩnh đã tiếp xúc với biển. Văn hoá Bàu Tró [55] của tác giả Phạm Thị Ninh, đã xác lập rõ những nét đặc trưng của nền văn hoá Bàu Tró nói chung và văn hoá Bàu Tró trên đất Hà Tĩnh nói riêng.

Theo Phạm Thị Ninh về tính chất biển ở các địa điểm di tích của Hà Tĩnh đậm nét hơn cả, thể hiện qua các di tích cồn sò điệp, các hiện vật và các dấu ấn hoạt động kinh tế khai thác biển và sản xuất nông nghiệp của cư dân văn hoá Thạch Lạc để lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Đời sống văn hóa cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một nghiên cứu chuyên sâu về sự biến đổi và phát triển văn hóa của cộng đồng ven biển Hà Tĩnh trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Luận án không chỉ phân tích các yếu tố văn hóa truyền thống mà còn đề cập đến những tác động của quá trình hiện đại hóa lên đời sống tinh thần và vật chất của người dân. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến văn hóa địa phương, quản lý văn hóa, và sự phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý và phát triển văn hóa, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, Luận án TS chất lượng dịch vụ hành chính công trên địa bàn thành phố Hà Nội, và Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại cục thuế tỉnh Đồng Tháp. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về quản lý và phát triển văn hóa, dịch vụ công, và động lực làm việc trong bối cảnh hiện đại.