CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1.1 Khái quát chung về xử lý kỷ luật lao động 1.1 Khái niệm kỷ luật lao động Kỷ luật lao động (KLLĐ) là sự kết hợp hài hòa giữa thuật ngữ "kỷ luật" và lĩnh vực "lao động3". Để hiểu thêm về cụm từ "kỷ luật lao động" chúng ta cần làm rõ kỷ luật là gì? Như thế nào là kỷ luật trong lĩnh vực lao động? Tùy thuộc vào tính chất, mức độ và quan niệm của xã hội sẽ có nhiều loại kỷ luật khác nhau như kỷ luật của các tổ chức, kỷ luật hành chính Nhà nước, kỷ luật của các tổ chức xã hội hoặc kỷ luật của một quá trình lao động. Tuy nhiên bản chất thuật ngữ "kỷ luật" có thể như là những nguyên tắc được định sẵn mang tính chất bắt buộc trong hoạt động của một cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân tại cơ quan để đảm bảo tính chuẩn xác, chặt chẽ của cơ quan đó. Kỷ luật được coi là một hình thức xử phạt khi một cá nhân bị vi phạm kỷ luật.
Ở từ điển bách khoa Việt Nam có khái niệm về việc kỷ luật. Kỷ luật là một trật tự nhất định được tạo ra dựa trên những quy tắc đáp ứng về mặt đạo đức, xã hội, pháp luật4. Được quy định, và nâng cấp theo từng thời kỳ nhằm quản lý cũng như phục vụ lợi ích của con người trong một môi trường. Và mục đích cuối cùng là xây dựng nền tảng xã hội.
Như vậy chúng ta có thể hiểu rằng, kỷ luật bao gồm những nguyên tắc, quy định, điều lệ mà chính con người tạo ra cho một cộng đồng, và bắt buộc tất cả các cá thể bên trong đó phải thực hiện theo đúng những nguyên tắc đã được quy định nhằm đảm bảo được trật tự, bình đẳng cũng như làm gia tăng năng suất hiệu quả trong một quá trình làm việc của một tập thể, đạt được hiệu quả cao nhất. Trong phạm vi quan hệ lao động, kỷ luật lao động là một yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Bởi lẽ nếu không có kỷ luật trong môi trường lao động việc quản lý người lao động, cũng như tìm ra sự bình đẳng công bằng cho các cá nhân trong quan hệ lao động là rất khó. "Kỷ luật lao động" đây là một cụm từ không mấy xa lạ đối với chúng ta.
Cụm từ này đã xuất hiện rất lâu khi đất nước còn chưa phát triển. Khi bắt đầu có sự can thiệp của Nhà nước, đất nước ngày ngày phát triển chất lượng cuộc sống của con người ngày càng nâng 3 Viện Ngôn ngữ học (2003), tlđd (1), tr.519 4 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam – Tập 2, Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 549 6 cao, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, xí nghiệp được hình thành từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, nhà máy có hàng trăm hàng vạn công nhân, từ đó việc quản lý cả một cộng đồng, việc kỷ luật lao động được lập ra được coi là nền móng đề xây dựng lên một đế chế mà người đứng đầu có thể quản lý, điều hành cả một một doanh nghiệp có quy mô lớn.
Kỷ luật lao động không dựa trên quy tắc hay cảm nhận của một cá nhân một chủ thể nào khi tham gia lao động mà được hình thành, áp đặt ra bởi người sử dụng lao động (NSDLĐ) ép buộc người lao động (NLĐ) phải tuân thủ, ngược lại nếu vi phạm họ sẽ phải chịu xử lý kỷ luật theo quy định đã được đề ra. Tuy nhiên khác với những thời kỳ trước KLLĐ hiện nay chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật Nhà nước nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp trong quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ. Từ đó chúng ta thấy được rằng kỷ luật lao động khác với kỷ luật của một tổ chức hay cơ quan nào đó bởi kỷ luật của một tổ chức hay cơ quan là do cơ quan, tổ chức đó đề ra, kỷ luật lao động được hình thành và quy định bởi pháp luật của Nhà nước đề ra. KLLĐ theo từ điển bách khoa Việt Nam là những quy tắc được đề ra trong một chế độ làm việc cam kết chấp hành nghiêm túc của mỗi cá nhân chủ thể trong một môi trường lao động tạo sự liên kết, tính chất hài hòa thống nhất chung trong một vấn đề cụ thể ở tại môi trường làm việc.
Từ đó nếu hiểu theo cách này thì KLLĐ là những quy tắc chuẩn mực, nề nếp của một cơ quan đề ra mà người lao động phải thực hiện đúng trong quá trình lao động. Trong phạm vi pháp luật lao động, khái niệm kỷ luật lao động được đề cập trong rất nhiều Bộ luật Lao động. Cụ thể là Bộ luật Lao động 1994, đây là Bộ luật lao động đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Đã khái niệm kỷ luật lao động "là những quy định tuân thủ về mặt thời gian, điều hành sản xuất, kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động"5.
Trong đó nội quy lao động được lập ra với những quy định không trái với qui định của pháp luật, được thể hiện rõ bằng văn bản với mục đích quản lý người lao động. Tiếp theo đó Bộ luật Lao động 2012 vẫn giữ nguyên quan điểm về khái niệm kỷ luật lao động của Bộ luật Lao động năm 1994. Tuy nhiên đến năm 2019 Bộ luật lao động có phần thay đổi về cách định nghĩa này, khái niệm về kỷ luật lao động có phần rộng lớn hơn, rõ ràng và chi tiết hơn. Cụ thể như "kỷ luật lao động là những quy định về 55 Quốc hội (1994), Bộ luật Lao động, Hà Nội.
7 việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định". 6Theo cách hiểu này thì kỷ luật lao động đối với người lao động (NLĐ) là một nghĩa vụ cần phải thực hiện, tuân theo quy định về thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất trong một kinh doanh việc này được xem là những quy tắc cơ bản xoay quanh những mối quan hệ lao động tạo nên trật tự cho một doanh nghiệp. Từ những định nghĩa về khái niệm KLLĐ được đề cập, cho chúng ta thấy được rằng pháp luật chỉ quy định, về phạm vi áp dụng cũng như là nội dụng của việc kỷ luật lao động. Nhưng chưa thật sự đề cập đến chủ thể liên quan đến kỷ luật lao động đó là NSDLĐ và NLĐ.
Từ những đúc kết trên tác giả có thể hiểu về kỷ luật lao động là những quy định, quy tắc về thời gian, trật tự, nề nếp, ở môi trường làm việc được người sử dụng lao động (NSDLĐ) lập ra cho người lao động (NLĐ) tuân thủ, và những quy định đó được thành lập một cách chi tiết bằng văn bản, được quy định trong hợp đồng lao động hoặc chính thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động bên cạnh đó chịu sự quản lý, điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Bản chất kỷ luật lao động Trong lĩnh vực pháp lý người ta rất ít đề cập đến bản chất của việc kỷ luật người lao động. Bởi lẽ người cho rằng việc kỷ luật lao động về mặt pháp lý, người sử dụng lao động được phép ban hành miễn không vi phạm pháp luật. Quyền này được thiết lập ra trong đơn vị, môi trường làm việc giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ), bên cạnh đó người sử dụng lao động được thực hiện quyền xử lý kỷ luật lao động đối với những hành vi vi phạm của người lao động.
Đó là những nội dung cơ bản mà người sử dụng lao động có thể thực hiện. Đối với quyền quản lý người lao động của người sử dụng lao động có những đặc trưng như sau: Về quyền xử lý kỷ luật vi phạm trong lao động. Đây là một trong những quyền hạn chế của người sử dụng lao động. Bởi lẽ người sử dụng lao động được thực hiện xử lý kỷ luật lao động theo khuôn khổ.
Nói một cách khác, việc xử lý kỷ luật phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Về quyền thiết lập quy định trong việc kỷ luật lao động và xử 6 Quốc hội (2019), Bộ luật lao động, Hà Nội. 8 lý kỷ luật lao động. Đây là quyền đơn phương mà người sử dụng lao động có thể tự lập ra mà không cần sự thỏa thuận từ trước giữa người sử dụng lao động và người lao động.
Khi bắt đầu giao kết hợp đồng lao động việc tuân thủ kỷ luật lao động cũng như những hình thức xử lý kỷ luật lao động được quy định sẽ là một trong những điều kiện đề việc giao kết hợp đồng lao động thành lập. Mà khi đó người lao động phải chấp nhận tất cả các quy định đó trước khi được làm việc. Một lý do để người sử dụng lao động được thực hiện quyền này một cách đơn phương đó chính là họ mang tính quyền lực. Tính quyền lực ở đây không mang tính chất cưỡng chế pháp luật Nhà nước mà là quyền lực giữa người làm chủ và người được thuê làm việc trong một môi trường lao động.
Trong lĩnh vực xã hội, kỷ luật lao động được hình thành dựa trên những yêu cầu khách quan trong một quá trình lao động, những hoạt động mang tính tập thể. Chính vì lẽ đó kỷ luật lao động xuất hiện ở từng chế độ xã hội. Vì thế ở mỗi chế độ xã hội sẽ có quy định khác nhau việc kỷ luật lao động. Vai trò và ý nghĩa của kỷ luật lao động Dù cho bất kể một công trình nào, quy mô nhỏ hay lớn, dù cho bất kể một cộng đồng nào nhiều hay ít chúng ta đều cần có kỷ luật tạo ra một môi trường làm việc có trật tự, văn minh.
Từ đó cho ta thấy được rằng KLLĐ giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ, bên cạnh đó góp phần định hướng phát triển cho nền kinh tế nước nhà. Xử lý kỷ luật đóng vai trò cụ thể như sau: Đối với người sử dụng lao động. Kỷ luật lao động là một nền tảng khoa học trong việc xây dựng một tập thể người lao động một cách hiệu quả. Từ đó kỷ luật lao động sẽ giúp cho người sử dụng lao động duy trì được nề nếp trong từng đơn vị, ngoài việc quản lý và điều hành một quần thể có trật tự ổn định trong sản xuất, kinh doanh.