Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu luôn là mối quan tâm của hải quan các nước. Việc xác định trị giá hải quan không chỉ liên quan tới nguồn thu ngân sách, tới các chính sách khuyến khích phát triển và bảo vệ sản xuất nội địa mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới mối quan hệ thương mại, ngoại giao giữa các nước. Chính vì vậy, ngay từ đầu thế kỷ 20, các nước kinh tế phát triển ở Châu Âu đã cố gắng xác định các phương pháp xác định trị giá hải quan thống nhất trên phạm vi quốc tế.
Sau nhiều cố gắng không thành công, đến năm 1947 được sự bảo trợ của Hội quốc liên (nay là Liên hợp quốc), các nguyên tắc cơ bản về xác định trị giá hải quan đã được ghi nhận trong Điều 7 của Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (GATT). Các qui định này chỉ phác họa những nguyên tắc chung. Do đó, các nước thuộc liên minh hải quan châu Âu đã triển khai nghiên cứu về trị giá hải quan. Ngày 15/12/1950, các nước tham gia hội nghị quốc tế về trị giá hải quan họp tại Bruxelles, Bỉ đã nhất trí chấp nhận các định nghĩa về trị giá do liên minh hải quan Châu Âu đề xuất và đó chính là các định nghĩa Bruxelles về trị giá hải quan.
Ngày 23/07/1953, định nghĩa Bruxelles bắt đầu có hiệu lực và 17 năm sau đã có khoảng 33 nước chấp nhận Định nghĩa Bruxelles. Vào những năm 1973 – 1979, kinh tế thế giới phát triển nhanh theo hướng quốc tế hóa, thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ…. và định nghĩa Bruxelles về trị giá hải quan đã không còn phù hợp nữa. Các nước trên thế giới bắt đầu một loạt các cuộc đàm phán mới nhằm đạt được những thuận lợi trong mở rộng và tự do hóa thương mại quốc tế.
Vấn đề xác định trị giá hải quan được đặt ra như một trở ngại quan trọng của tiến trình này. Vòng đàm phán này gọi là vòng đàm phán Tokyo, mà kết quả là một hiệp định mới về xác định trị giá hải quan ra đời vào 9 năm 1981. Đến ngày 15/04/1994, tại Marrakest, Hiệp định này đã được bổ sung sửa đổi thành Hiệp định trị giá GATT 1994. Đến năm 1995, có khoảng 108 nước tham gia ký kết Hiệp định trị giá GATT.
Với bối cảnh của sự ra đời và phát triển của Hiệp định trị giá Hải quan GATT/WTO như đã nêu trên, có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau liên quan đến trị giá hải quan: Các nghiên cứu về xác định trị giá hải quan: Cuốn sách “Colloque international sur l’evaluation en douane” (Tuyển tập quốc tế về định giá hải quan), Tổ chức Hải quan thế giới, 1995; Sách “Xác định trị giá hải quan” của Tổ chức Hải quan thế giới, 1998; Sách “Trị giá hải quan” của APEC, modul I và III, Tiểu ban Thủ tục hải quan, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, 1999; Cuốn “Cẩm nang xác định trị giá hải quan Philippines”, Hải quan Philippines, 2000; Gege Vinod (2002). Xác định trị giá hải quan và cải cách hải quan, trong cuốn Sổ tay về Phát triển, Thương mại và Tổ chức Thương mại thế giới, Bernard Hoekman, Aaditya Mattoo, Ngân hàng Thế giới; Cuốn “Cẩm nang xác định trị giá hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới”, Tổ chức Hải quan thế giới, 2004; Trọng tâm của các nghiên cứu này đều tập trung vào vấn đề xác định trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá GATT/WTO theo sáu phương pháp xác định trị giá hải quan, trong đó mỗi phương pháp đều có những hướng dẫn cụ thể cách thức xác định, tính toán từng yếu tố cấu thành trong trị giá hải quan. Bên cạnh đó, với mỗi yếu tố cấu thành, cũng giải thích cụ thể, chi tiết bản chất, ý nghĩa và cách xác định từng yếu tố. Trong phạm vi rộng nhất có thể, việc xác định trị giá hải quan phải dựa trên trị giá giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa.
Các quy tắc và phương pháp xác định trị giá giản đơn và chặt chẽ tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế, giảm các tranh chấp giữa các nhà nhập khẩu và cơ quan Hải quan. Juan Martin Jovanovich (2000). Customs valuation and transfer princing is it possible to harmonize customs and tax rules, Luận văn thạc sỹ ngành luật so sánh, Đại học MCGILL Canada. Juan Martin Jovanovich đã đi sâu nghiên cứu 10 những vấn đề lý luận về hài hòa hóa, xác định trị giá hàng hóa, thuế cơ bản, trị giá hải quan và trị giá tính thuế đối với hàng hóa NK, xem xét các điều khoản giá và công thức xác định giá.
Tác giả cũng đã đề cập về xác định trị giá hải quan góp phần tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Các nước cần có phương pháp xác định trị giá hải quan chung và thống nhất, ổn định, thống nhất, ít bị chi phối bởi chính sách thương mại quốc gia. Tạo môi trường thương mại an toàn, có thể dự đoán được. Thúc đẩy đầu tư, tăng trưởng kinh tế.
Sách “ACVG” do Hải quan New Zealand soạn thảo, modul II, III, 2004 (Hướng dẫn xác định trị giá hải quan Asean), cuốn sách này là một tài liệu quan trọng được xây dựng nhằm giúp các thành viên Hải quan ASEAN thực hiện Hiệp định trị giá Hải quan WTO, giải quyết các vấn đề trị giá cơ bản phát sinh trong lĩnh vực pháp luật và các thực tiễn quản lý hành chính.Tại phần II (tr 52 - 113) cung cấp các giải thích chi tiết về các phương pháp xác định trị giá hải quan và các cách thức để áp dụng các phương pháp đó trong thực tiễn thông qua việc kết hợp các giải thích về quy tắc xác định trị giá. Tại phần III (tr 114 - 156) giải quyết các yếu tố khác nhau của kiểm soát việc xác định trị giá hải quan và quản lý rủi ro. Phần này cũng đề cập đến vấn đề gian lận trị giá hải quan và kiểm tra một số biện pháp để đối phó với vấn đề này. Cuốn sách “la valeur en douane”, 2004 (trị giá hải quan), của Trường Hải quan quốc gia Pháp, với 148 trang, chia làm 3 phần, trong đó trình bày chi tiết các phương pháp xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT.
Trị giá hải quan của hàng nhập khẩu dựa trên giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa đó. Trị giá hải quan của hàng hóa NK là giá thực tế phải trả tính tới cửa khẩu nhập đầu tiên và được xác định theo các phương pháp xác định trị giá: Phương pháp 1: Phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu; Phương pháp 2: phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu giống hệt; Phương pháp 3: phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu tương tự; Phương pháp 4: phương pháp trị giá khấu trừ; Phương pháp 5: phương pháp trị giá tính toán; Phương pháp 6: Phương pháp suy luận. 11 Nghiên cứu những tài liệu này giúp cho tác giả có một góc nhìn khá toàn diện về xác định trị giá hải quan. Các kết quả nghiên cứu này sẽ được tóm lược và sử dụng để nghiên cứu so sánh với pháp luật Việt Nam.
Các nghiên cứu về kiểm tra, tham vấn trị giá hải quan: Cuốn “Sổ tay Kiểm tra xác định trị giá hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới”, Tổ chức Hải quan thế giới, 2000; Maria Malm (2009). Customs valuation and transfer pricing, two sides of the same coin, Luận văn thạc sỹ luật thương mại và thuế quốc tế, trường Đại học Jonkoping (JU) Thụy Điển; Cuốn “Practical guidelines for valuation control”, Tổ chức Hải quan thế giới, năm 2012; Sách WCO “Guide to customs valuation and transfer pricing”, Tổ chức Hải quan thế giới, 2015. Các nghiên cứu tiếp cận dưới các khía cạnh khác nhau nhưng đều tập trung vào các vấn đề như: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về trị giá hải quan, chuyển giá; Mối liên hệ giữa chuyển giá và trị giá hải quan; Phân tích và đưa ra gợi ý về chính sách. Sử dụng thông tin về chuyển giá kiểm tra mối liên quan giao dịch các bên.
Hệ thống các chính sách và luật pháp về trị giá hải quan của WTO, khu vực, quốc gia. Quản lý rủi ro về trị giá như nhận diện rủi ro, sử dụng công cụ dữ liệu thống kê; Phát triển một chương trình kiểm soát trị giá có hiệu quả. Các nghiên cứu trên đều nhận định chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong cùng một tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company) trên toàn cầu. Chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết.
Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả, từ đó tác động lên các hoạt động xuất nhập khẩu và ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác của các quốc gia xuất nhập khẩu. Thực hiện Hiệp định trị giá hải quan tại các nước đang phát triển: những vấn đề và khuyến nghị. Tạp chí Thương mại thế giới, trang 125 – 143; Finger J. Michael và Philip Schuler (1999).
Thực hiện các cam kết của 12 Vòng đàm phán Uruguay: Thách thức đối với sự phát triển. Tài liệu nghiên cứu chính sách No WPS2215. Geneva, Ngân hàng Thế giới; Satapathy, C (2000). Thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan của WTO, Tuần báo Kinh tế và chính trị, trang 2098-2101; Gurler Oker (2002).
Các Hiệp định của WTO về hàng rào phi thuế quan và tác động đối với các nước thành viên: Trị giá hải quan, kiểm tra trước khi giao hàng, quy tắc xuất xứ và cấp phép nhập khẩu. Tạp chí Hợp tác Kinh tế các nước Hồi giáo, trang 66 - 68; Anson, Jose; Cadot Olivier và Olarraeaga Marcelo (2003). Trốn thuế và tham nhũng trong Hải quan. Dịch vụ kiểm tra trước khi xếp hàng có tác dụng gì không?, Tài liệu nghiên cứu chính sách, số 3156, Ngân hàng thế giới.
Có thể nói rằng, những nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào những vấn đề mà các nước đang phát triển gặp phải trong quá trình thực hiện Hiệp định trị giá hải quan mặc dù Hiệp định đã đưa ra nhiều qui định về việc bảo lưu, trì hoãn, gia hạn trong việc thực hiện.