mở đầu cho toàn bộ quá trình khai nhận di sản thừa kế của những người được hưởng tài sản từ người chết. 10 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày mà Tòa án xác định người đó đã chết. Nếu không xác định được chính xác ngày chết của người đó thì ngày bản án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày mà người đó chết theo quy định pháp luật.6 Dù đã có nguyên tắc xác định di sản thừa kế đã nêu ở trên nhưng để cụ thể hóa việc xác định di sản nhằm tránh sự tranh chấp trong quá trình phân chia di sản thừa kế thì cần lưu ý các nội dung sau: - Di sản là tài sản riêng của người chết: Di sản của cá nhân được xác định có 2 loại gồm: tài sản riêng thuộc toàn quyền sở hữu của người chết và phần tài sản riêng của người chết trong khối tài sản chung với người khác7.
Tài sản riêng của người chết được hiểu là phần tài sản độc lập do chính người đã chết tạo lập trước khi chết và các chủ thể khác không có quyền ràng buộc, quyền dịch chuyển, quyền chia cắt hay bất cứ quyền nào trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó. Tài sản riêng của người chết được xác định khi người đó còn sống và họ có quyền sở hữu tài sản của mình một cách độc lập. Đây là những tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng và giá trị, được hình thành từ các nguồn như thu nhập từ lao động sản xuất, kinh doanh, được tặng cho riêng, được thừa kế riêng, quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, thu nhập khác… Cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng nhằm phục vụ nhu cầu vật chất cho cuộc sống, sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật. Khi cá nhân chết đi, tài sản thuộc sở hữu riêng là bộ phận của di sản thừa kế.8 6 Khoản 1, khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015, khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015 7 Điều 612 Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa về di sản 8 Nguyễn Văn Huy, 2019, Xác định di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam, trang Người bảo vệ quyền lợi 11 -Di sản là phần tài sản trong khối tài sản chung với người khác.
Tài sản chung hay nói cách khác là tài sản thuộc sở hữu chung gồm sở hữu chung hợp nhất và sở hữu chung theo phần. Tài sản riêng của cá nhân trong khối tài sản chung với người khác được xác định căn cứ theo các quy định tại Bộ luật dân sự 2015, Luật Hôn nhân và gia đình… Theo đó, tài sản của vợ, chồng thường được xác định là sở hữu chung hợp nhất mà tài sản riêng của mỗi người có thể được hình thành từ những nguồn: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đã chia là tài sản riêng của vợ, chồng, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng, tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng (điển hình là quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác, khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng…9 Trong trường hợp vợ chồng lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo văn bản thỏa thuận được xác lập trước khi kết hôn. Còn đối với tài sản riêng thuộc khối sở hữu chung theo phần cùng các chủ thể khác thì mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Sở hữu chung theo phần thường là việc cá nhân góp vốn thông qua các hình thức khác nhau để mua tài sản, hợp tác sản xuất, kinh doanh chung hoặc các nhu cầu chung khác.
Để xác định phần di sản của người đã chết trong khối tài 9 Điều 33,34,37,38,40, 43, 47, 205, 206 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2014. 12 sản chung cần phải thông qua việc định giá tài sản chung đó; trường hợp không tự thỏa thuận được, việc xác định tài sản còn được thông qua các bản án có hiệu lực của Tòa án. - Di sản là các quyền tài sản của người chết để lại: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí thuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.10 Ngoài ra, các quyền như quyền nhận tiền công lao động, tiền nhuận bút, tiền trợ cấp xã hội, tiền đoạt giải các cuộc thi, tiền chi phí cho việc thực hiện công việc, các khoản tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tiền bảo hiểm. mà người chết khi còn sống đáng lẽ họ được nhận thì này họ chết, số tiền đó cũng được coi là di sản thừa kế mà những người thừa kế của họ được hưởng.
Quyền tài sản thì không nhất thiết quyền đó có được chuyển giao hay không11, miễn là quyền tài sản đó trị giá được bằng tiền, nghĩa là tài sản, thì quyền tài sản đó chính là di sản. Việc Bộ luật dân sự 2005 xác định quyền tài sản thông qua căn cứ “chuyển giao” hoặc “không được chuyển giao” dẫn đến thực tế một người chết được hưởng quyền bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng, nhân phẩm, danh dự uy tín thì quyền được hưởng khoản này không thể được chuyển giao nên sẽ không là di sản – điều này hoàn toàn trái với tinh thần pháp luật nói chung hay với cả ý chí của người chết nói riêng, bởi kết quả của quyền được hưởng bồi thường này chính là khoản lợi ích vật chất mà những người thừa kế được hưởng khi nhận bồi thường khoản thiệt hại của người chết; hay quyền mua nhà ở tái định cư không được phép chuyển giao cho những người thừa kế … dẫn đến việc khó khăn khi áp dụng pháp luật trên thực tế. Do vậy, việc xác định quyền tài sản theo quan điểm của Bộ luật dân sự 2015 đã khắc phục các tồn đọng trong công tác áp dụng pháp luật thực tế bởi dự liệu, tạo tiền đề để việc ghi nhận một sô loại đối tượng có 10 Điều 115 Bộ luật dân sự 2015 Điều 309 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể 11 được chuyển giao trong giao dịch dân sự bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ”. 13 giá trị trong thực tiễn nhưng chưa được pháp luật thừa nhận bởi hạn chế trong chuyển giao của nó chẳng hạn như quyền đói với tài sản ảo trên internet…12 - Di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng: Di sản dùng vào việc thờ cúng: Dưới góc độ đạo đức xã hội, phong tục tập quán của người Việt thì cơ sở để pháp luật về thừa kế quy định về di sản thờ cúng thể hiện truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thể hiện sự cảm ơn các đấng sinh thành sinh thành, nuôi dưỡng, là sự tưởng nhớ đến cha, mẹ, ông bà, tổ tiên, sự thành đạt của họ là kết quả tích lũy của những người đã chết.
Vì thế người còn sống thể hiện lòng biết ơn, tôn kính, thực hiện cúng giỗ theo phong tục, tín ngưỡng đối với người chết. Việc thực hiện cúng giỗ không bắt buộc phải lấy tài sản của người chết để lại nhưng để thể hiện được mối quan hệ cũng như thể hiện sự tưởng nhớ và nhằm hỗ trợ cho những người được thừa kế thì khi cúng giỗ phải dùng đến một khoản tiền nhất định để mua đồ lễ như vàng hương, hoa quả., khoản này sẽ được trích từ di sản dùng vào việc thờ cúng mà người chết để lại cùng với hoa lợi thu được từ phần di sản này dùng vào việc thờ cúng, chăm sóc mồ mả và tu sửa nhà thờ. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.13 12 Đỗ Văn Đại, 2016, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, phần số 114.
13 Điều 645 Bộ luật dân sự 2015 14 Phần di sản dành cho di tặng 14 Di tặng tài sản là việc tặng cho theo ý chí của người chết để lại và có thể có điều kiện hoặc không điều kiện và không nhất thiết yêu cầu mối quan hệ thừa kế. Xét về khía cạnh nào đó di tặng thể hiện ý chí định đoạt của người chết đối với người không thuộc hàng thừa kế và không mang tính chất đối trọng nghĩa vụ buộc người được tặng cho phải nhận hay thực hiện nghĩa vụ và khác hoàn toàn với việc tặng cho thông thường bởi lẽ: tặng cho thông thường thì người tặng cho và người được tặng cho đều phải còn sống và thể hiện ý chí cho nhận tài sản. Còn di tặng thì chỉ phát sinh từ cơ sở định đoạt của người có di sản lập di chúc và người được ch định nhận di tặng khi người để lại di tặng chết.