Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hạn chế phân chia di sản thừa kế. - Chương 2: Bất cập của pháp luật về hạn chế phân chia di sản thừa kế và kiến nghị hoàn thiện. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ Để xem xét một cách toàn diện các vấn đề về hạn chế phân chia di sản thừa kế thể hiện trong các quy định của pháp luật hiện hành, trước tiên tác giả tập trung làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản có liên quan như: các khái niệm cơ bản có liên quan, các căn cứ hạn chế phân chia di sản, nội dung của hạn chế phân chia di sản, hậu quả pháp lý, cũng như các căn cứ chấm dứt hạn chế phân chia di sản. Từ đó có cái nhìn khái quát, toàn diện về hạn chế phân chia di sản và đưa ra các bất cập cũng như hướng hoàn thiện xây dựng pháp luật trong tương lai.
Khái niệm hạn chế phân chia di sản thừa kế, mục đích của hạn chế phân chia di sản thừa kế 1. Khái niệm hạn chế phân chia di sản thừa kế Thừa kế hiểu theo nghĩa chung nhất là việc chuyển dịch tài sản từ người chết sang người còn sống. Theo từ điển Tiếng Việt: “Thừa kế là hưởng tài sản của người chết để lại hay thừa kế gia sản của cha mẹ”1. Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và đã xuất hiện trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người.
Ở thời kỳ này quan hệ thừa kế chủ yếu được thực hiện dựa trên quan hệ huyết thống hoặc theo phong tục, tập quán riêng của từng thị tộc, bộ lạc. Ăngghen đã viết: “Theo chế độ mẫu quyền - tức là huyết tộc chỉ được tính về bên mẹ - và theo tập tục ban đầu về việc kế thừa trong thị tộc, thì chỉ những người họ hàng trong cùng thị tộc mới được thừa kế tài sản của một thành viên thị tộc đã chết. Tài sản của người đó phải ở lại trong thị tộc. Vì tài sản đó cũng không nhiều cho lắm, nên có lẽ là từ xưa, nó đã luôn được trao cho những người họ hàng gần nhất về phía mẹ”2.
Như vậy, ngay dưới chế độ mẫu quyền trong thời kỳ nguyên thuỷ của xã hội loài người, khi mà xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, chế độ sở hữu còn dưới 1 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.Ăngghen (1961), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 46 11 dạng cộng đồng nguyên thuỷ, chỉ là những công cụ lao động thô sơ và những vật phẩm tự nhiên thì vấn đề thừa kế đã được đặt ra. Lúc đó thừa kế được phát sinh dựa trên quan hệ huyết thống theo dòng máu của người mẹ. Bởi vì xã hội này con người sống quần hôn cho nên không thể xác định được cha của đứa trẻ là ai và con sinh ra hoàn toàn phụ thuộc vào người mẹ.
Theo tiến trình phát triển của xã hội cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất lao động ngày càng được nâng cao, từ đó xuất hiện sự dư thừa sản phẩm. Những người có quyền hành trong thị tộc, bộ lạc tìm mọi thủ đoạn để chiếm hữu số của cải dư thừa đó làm của riêng. Chế độ tư hữu xuất hiện, chế độ thị tộc, chế độ cộng sản nguyên thuỷ dần dần bị phá vỡ và nhường chỗ cho một chế độ xã hội mà trong đó đã có sự phân hoá giai cấp. Khi giai cấp đã xuất hiện kéo theo sự xuất hiện của Nhà nước thì quá trình dịch chuyển di sản từ một người đã chết cho một người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của nhà nước, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.
Giai cấp thống trị thông qua bộ máy nhà nước, ban hành các quy định để điều chỉnh các quan hệ trong việc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện chuyển dịch tài sản và những vấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Theo từ điển Luật học: “Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống. Thừa kế luôn gắn với sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương diện để duy trì củng cố quan hệ sở hữu”3. Cách hiểu này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa thừa kế và sở hữu.
Sở hữu là tiền đề để thừa kế phát sinh thừa kế còn thừa kế là phương diện để duy trì và củng cố quan hệ sở hữu. Ngoài ra thừa kế còn được hiểu: “Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người chết cho một chủ thể - đó có thể là cá nhân hoặc tổ chức – theo ý chí của người để lại di sản hoặc theo các quy tắc của xã hội, mà mỗi chế độ xã hội khác nhau có những quy tắc khắc nhau do điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội…quyết định”4. 3 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 754 4 Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh, Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 176 12 Từ các khái niệm trên cho thấy thừa kế được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Nhưng các khái niệm này đều có điểm chung và được hiểu một cách khái quát như sau: “Thừa kế là sự dịch chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết cho người có quyền hưởng di sản thừa kế”. Di sản thừa kế là vấn đề vừa mang tính kinh tế, mang tính xã hội truyền thống nhưng cũng là vấn đề phức tạp về mặt pháp lý.
Có thể nói, di sản thừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm phát sinh và thực hiện quan hệ dân sự về thừa kế. Đích cuối cùng của tranh chấp thừa kế chính là xác định đúng khối di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế theo đúng kỷ phần mà người thừa kế có quyền được hưởng, việc xác định đúng di sản thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ án về thừa kế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc xác định di sản thừa kế - yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc giải quyết các vụ án về thừa kế còn nhiều nan giải cả về mặt lý luận và trong thực tiễn áp dụng. Thuật ngữ “di sản” là một từ ghép Hán Việt dược tách ra làm hai từ để hiểu.
Trước hết “di” trong Từ điển tiếng Việt được hiểu ở bốn khía cạnh sau: - “Di” biểu hiện sự chuyển động ra khỏi vị trí nhất định thông qua sự tác động nào đó lên một vật để lại dấu vết nhất định. - “Di” còn được hiểu là dời đi nơi khác, thoát khỏi vị trí ban đầu, biểu hiện của sự chuyển động từ nơi này đến nơi khác, từ điểm này đến điểm khác trong không gian và thời gian (không gian là điều kiện căn bản của sự tồn tại của vật chất, còn thời gian là điều kiện căn bản của sự biến đổi trạng thái của vật chất). - “Di” với nghĩa khác là sự truyền lại, lưu lại, để lại cho đời sau, thế hệ sau, người “đi” sau, như: “di bản”, “di cảo”. - “Di” với nghĩa để lại lời dạy, lời căn dặn của một người trước khi chết, như “di huấn”, “di chúc”.
Với các nghĩa trên đây, “di” có thể hiểu một cách chung nhất là sự dịch chuyển sự vật, hiện tượng làm thay đổi vị trí của chúng trong không gian và thời 13 gian. Sự thay đổi vị trí của chúng bao giờ cũng thể hiện yếu tố “trước” và “sau”. Nó có thể diễn ra trong một thời gian ngắn hoặc trong một thời gian dài. Từ “sản” trong tiếng Việt được hiểu ở các khía cạnh sau: - Sinh ra, làm ra, tạo ra sản phẩm để sinh sống; - Cái do con người tạo ra là kết quả tự nhiên của quá trình lao động, sản xuất; - Là từ dùng để chỉ gia tài, sản nghiệp mang tính tổng thể của những tài sản trong một khối; Với các nghĩa trên đây, “sản” được hiểu một cách chung nhất là tài sản hoặc khối tài sản nằm trong sự chiếm hữu và sử dụng để mang lại lợi ích cho con người.
Từ “di” được ghép với từ “sản” thành “di sản” nhằm để chỉ của cải, gia tài, sản nghiệp, cái mà đời trước để lại cho đời sau. Trong Từ điển tiếng Việt thì “di sản” được hiểu với nghĩa là: - Tài sản của người chết để lại. - Cái của thời trước để lại, ví dụ như: di tích lịch sử, di vật lịch sử… Hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thông thường thì “di sản” là tài sản của người chết để lại hoặc những cái mà thời trước để lại cho đời sau, bao gồm: - Các giá trị vật chất là các tài sản đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. - Các giá trị tinh thần thuộc về đời sống nội tâm, những tư duy, ý tưởng, ý nghĩ định hướng cho hoạt động của con người.
Theo từ điển Luật học: “Di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho những người thừa kế…Di sản thừa kế bao gồm các quyền và nghĩa vụ tài sản của người chết để lại”5. Theo tác giả: “Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại cho những người thừa kế, không bao gồm các nghĩa vụ về tài sản và được pháp luật bảo hộ”. Với cách định nghĩa này tác giả nhận thấy đã khái quát được các khía cạnh của di sản thừa kế. 5 Viện khoa học pháp lý (2006), tlđd 3, tr.
14 Thứ nhất, đó là sự dịch chuyển về mặt pháp lý tài sản của người chết cho những người thừa kế. Thứ hai, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết, nếu di sản thừa kế bao gồm cả nghĩa vụ của người để lại di sản thì vô hình trung chúng ta đã quay trở lại thời kỳ trước đây với quan niệm hết sức bất công là “Phụ trái, tử hoàn” nghĩa là “nợ cha con trả”, con hưởng gia tài của cha thì phải thay cha trả nợ.