Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH 1. KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HỘ KINH DOANH Trong hoạt động thương mại, những cá nhân đều mong muốn tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ. Cá nhân tham gia hoạt động này phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để thực hiện hoạt động thương mại, đồng thời tự mình gánh chịu những trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động thương mại đó. Điều đó có nghĩa là các cá nhân kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mại.
Cá nhân kinh doanh thường được gọi là thương nhân đơn lẻ hay doanh nghiệp cá thể. Vể mặt học thuật người ta thường gọi đó là thương nhân thể nhân để phân biệt với các công ty mà thường được gọi là thương nhân pháp nhân. Pháp luật thương mại của nhiều quốc gia trên thế giới chỉ thừa nhận thương nhân thể nhân (cá nhân) và thương nhân pháp nhân. Tuy nhiên, con đường hình thành các thương nhân thể nhân ở Việt Nam có những đặc trưng riêng biệt.
Trong các triều đại phong kiến Việt Nam pháp luật thương mại hầu như không được biết đến. Điều đó có thể lý giải, là vì nền thương mại Việt Nam lúc bấy giờ còn kém cỏi, chưa có gì phát triển đáng kể. Do vậy, các hình thức kinh doanh có lẽ không được chú ý. Có chăng trong quan hệ buôn bán, hộ gia đình là thành phần lấn át.
Phải đến thời kỳ thuộc Pháp, năm 1864 người pháp đem Bộ luật thương mại của mình áp dụng vào Nam Kỳ và năm 1888 áp dụng vào Bắc Kỳ. Giai đoạn này có xuất hiện những thương nhân đơn lẻ, chủ yếu được hình thành, hoạt động theo quy định, chế định của luật thương mại Pháp. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thời kỳ đất nước bị chia cắt hai miền với hai chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa khác nhau. Ở miền Nam chính quyền Sài Gòn tiếp tục kế thừa pháp luật thương mại thời Pháp thuộc đồng thời ban hành một loạt các văn bản pháp luật thương mại mới mà đỉnh cao của nó là Bộ luật thương mại năm 1972, theo Bộ luật thương mại Việt Nam Cộng hòa năm 1972: "Thương gia là những người làm hành vi thương mại cho chính mình và lấy hành vi ấy làm nghề nghiệp thường xuyên của mình" [39, Điều 1].
Ở miền Bắc tiếp tục công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế ngoại quốc doanh đó là kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh, với mục đích biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cải tạo đối với các hộ cá thể trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh phải nhanh chóng xóa bỏ thành phần kinh tế này và áp dụng hình thức công tư hợp doanh. Khi xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, với chế độ công hữu hóa tư liệu sản xuất, tầng lớp thương nhân mới nhen nhóm đã bị xóa bỏ. Một số ít cá nhân kinh doanh vẫn tồn tại tuy nhiên chỉ là những người buôn bán những mặt hàng đơn giản, chạy chợ, bán hàng rong, và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ ở một số ngành nghề liên quan tới tiêu dùng hoặc những thành phần đang trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Các biện pháp thực hiện cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh để xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp có nhiều hạn chế do chủ quan, nóng vội, chưa đảm bảo các nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Chúng ta đã phạm phải một sai lầm là thủ tiêu quyền tài sản cá nhân của mỗi công dân. Từ đó đồng thời là thủ tiêu động lực sản xuất, kinh doanh và sáng tạo của các cá nhân. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng chỉ rõ: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên thực tế đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ tiền đề cần thiết; vừa nóng vội vừa buông lỏng trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp.
Chưa kiên quyết khắc phục chủ quan nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối lưu thông [20]. Sai lầm này làm cho nền kinh tế nước nhà bị suy yếu, sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren, đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn. Trước những thách thức đó, Đảng ta đã phân tích nguyên nhân, nghiêm túc kiểm điểm và xây dựng đường lối, chính sách để khắc phục. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đưa ra giải pháp: Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình.
Sử dụng khả năng tích cực của kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, đồng thời vận dụng và tổ chức những người lao động cá thể vào các hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; sắp xếp, cải tạo và sử dụng tiểu thương, giúp đỡ những người không cần thiết trong lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuất và dịch vụ. Sử dụng kinh tế tư bản tư nhân (tư sản nhỏ) trong một số ngành, nghề, đi đôi với cải tạo họ từng bước bằng nhiều hình thức tư bản nhà nước, xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân. Mở rộng nhiều hình thức liên kết giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc cùng có lợi, bình đẳng trước pháp luật [20]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI cũng đưa ra các biện pháp nhằm giải quyết vấn đề về phân phối, lưu thông: giải phóng năng lực sản xuất; tập trung sức bảo đảm vật tư và cải tiến các chính sách cụ thể để đẩy mạnh sản xuất những mặt hàng thiết yếu; để tăng nhanh khối lượng hàng hóa 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lưu thông, phải mở rộng giao lưu hàng hóa, bãi bỏ các biện pháp cấm đoán, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính.
Để giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 (khóa VI) nhận định: Phân phối lưu thông vẫn đang là mặt trận nóng bỏng của nền kinh tế. Phương hướng vừa cơ bản vừa cấp bách để giải quyết tình hình này là xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hẳn hoạt động của nền kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho toàn bộ hệ thống sản xuất, lưu thông hoạt động theo quy luật khách quan, tăng nhanh sản phẩm xã hội. Chính thực trạng phân phối, lưu thông nói trên đang gây khó khăn cho việc thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa và cản trở sản xuất phát triển [24]. Và đề ra các biện pháp chỉ đạo: Thể chế hóa và cụ thể hóa chính sách đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng để mọi người yên tâm bỏ vốn sản xuất, kinh doanh.
Theo hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh, thành phố quy định những ngành nghề và phạm vi hoạt động của các thành phần kinh tế nói trên. Khuyến khích các hình thức hùn vốn, hợp tác, làm ăn tập thể từ thấp đến cao và các hình thức liên kết với các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Soát xét lại các chính sách kinh tế, xã hội đối với kinh tế tập thể, cá thể, tư bản tư nhân, xóa bỏ mọi định kiến hẹp hòi và những quy định mang tính chất phân biệt đối xử không hợp lý [24]. Trong bối cảnh đó, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 27- HĐBT ngày 9/3/1988, ban hành bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dựng, vận tải.
Tại lời nói đầu của nghị định đã chỉ rõ mục đích của việc ban hành nghị định này là: Để thể chế hóa các chủ trương mới đã nêu trong Nghị quyết Đại lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải; để giải phóng mọi lực lượng sản xuất, phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, huy động khả năng của nhân dân phát triển sản xuất hàng hóa và dịch vụ sản xuất phục vụ đời sống và phục vụ xuất khẩu; để phát triển kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh, kết hợp chặt chẽ kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Tại Điều 1 của Bản quy định ban hành kèm theo Nghị định 27-HĐBT ngày 9 tháng 3 năm 1988 khẳng định: (1) Nhà nước công nhận sự tồn tại và các tác dụng tích cực lâu dài của các thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh; (2) Nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế này hoạt động và phát triển trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải với quy mô, ngành nghề thích hợp; (3) Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu, quyền thừa kế tài sản và thu nhập hợp pháp của các đơn vị kinh tế và của công dân thuộc thành phần kinh tế này; (4) Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân của các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế này trong xã hội. Việc tạo lập một hành lang pháp lý để cho các chủ thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận là cần thiết, và những chủ thể nào được tham gia sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải. Điều 2 của Bản quy định này cũng chỉ rõ: Các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh là các đơn vị kinh tế tự quản như có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập, lỗ lãi.