CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về đăng ký doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác.
Sự phát triển của DN gắn liền với sự phát triển của các phương thức sản xuất. 10 Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán. Theo Luật Công ty Việt Nam ban hành năm 1999: DN là các đơn vị kinh doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh, đó là việc thực hiện một hay một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của phập luật nhằm mục đích kinh doanh” [21, Khoản 10,Điều 4].
Có thể nói, Khái niệm theo nghĩa này được hiểu theo nghĩa khá rộng rãi, đầy đủ và chặt chẽ. Như vậy, DN được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân hoặc không, thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Đặc điểm doanh nghiệp Xét về phương diện pháp lý, doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. - Tên riêng: Mỗi doanh nghiệp đều có tên riêng, bao gồm tên thương mại và tên pháp lý.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, tên doanh nghiệp phải được viết bằng tiếng Việt, có kèm theo chữ số và ký hiệu, phát âm được và có ít nhất 2 thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng. Tên doanh nghiệp là yếu tố hình thức nhưng là dấu hiệu đầu tiên xác định tư cách chủ thể doanh nghiệp trên thương trường và là cơ sở để nhà nước thực hiện công tác quản lý đối với doanh nghiệp. - Tài sản: Có hai loại tài sản, tài sản hữu hình và vô hình, bất kỳ DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nào cũng cần có điều này. Tùy theo loại hình DN và ngành nghề kinh doanh có mức vốn tối thiểu theo quy định của Nhà nước 11 - Trụ sở giao dịch: Là nơi đặt văn phòng doanh nghiệp phục vụ hoạt động giao tiếp với khách hàng và với cơ quan chức năng, được ghi trong giấy chứng nhận ĐKDN.
- Đăng ký doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ việc thành lập công ty theo quy định của pháp luật ĐKDN, các thủ tục và quy trình nộp hồ sơ thành lập được đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, với cơ quan chức năng có thẩm quyền theo luật định 1. Phân loại doanh nghiệp Trong nền kinh tế, có thể phân chia DN theo các dạng tiêu chí khác nhau. * Theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp: Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014, xét về hình thức pháp lý có các loại hình DN chủ yếu sau: Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty Cổ phần, Công ty hợp danh, DN tư nhân. - Đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn.
Ở Việt Nam, Công ty Trách nhiệm hữu hạn có hai dạng: Công ty Trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên và Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty Trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là DN trong đó: + Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào DN. + Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. + Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá 50.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về 12 các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của Công ty. - Đối với Công ty Cổ phần. Công ty Cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: + Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. + Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào DN.
+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết. + Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Công ty Cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty Cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
- Đối với Công ty Hợp danh Công ty Hợp danh là DN trong đó: + Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; + Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; + Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. - Đối với Doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
13 Như vậy, có thể thấy rằng, cách phân loại DN theo hình thức pháp lý cho thấy được sự khác nhau trong các cách tổ chức huy động vốn, từ đó cũng ảnh hưởng đến việc điều chỉnh cấu trúc vốn của các loại hình DN. * Căn cứ vào chế độ chịu trách nhiệm về hoạt động doanh nghiệp - Đối với doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn là DN chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của chủ sở hữu đối với kết quả kinh doanh của DN. Loại DN này nếu kinh doanh bị thua lỗi, dẫn đến phá sản DN thì không phải chỉ chịu trách nhiệm tài sản về các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi vốn, tài sản của doanh nghiệp mà còn là toàn bộ tài sản của chủ sở hữu DN, kể cả những tài sản không đưa vào kinh doanh.
- Đối với các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn. Trách nhiệm hữu hạn của DN: Là việc người góp vốn, chủ sở hữu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về các khoản tài chính của DN trong phạm vi vốn góp của mình. Có thể hiểu đơn giản là khi DN giải thể, phải thanh toán các khoản nợ tài chính thì chủ sở hữu, cũng như người góp vốn vào DN chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào DN, mà không phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình. Đăng ký doanh nghiệp 1.
Khái niệm đăng ký doanh nghiệp Hiện nay, việc mở rộng giao lưu quan hệ thương mại giữa các quốc gia được các nước rất quan tâm. Do đó, đối với mỗi một chủ thể kinh doanh, để gia nhập thị trường và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải thỏa mãn rất nhiều điều kiện như: Chủ thể, vốn, ngành nghề kinh doanh, trụ sở, phương án kinh doanh…một trong những điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất là chủ thể kinh doanh phải tiến hành thủ tục đăng ký thành lập với cơ quan quản lý nhà nước nhằm mục đích ghi nhận sự ra đời của các chủ thể kinh doanh đó trên thị trường. 14 “Đăng ký” được hiểu là hoạt động của một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức cá nhân nào đó được ủy quyền thực hiện việc ghi nhận, xác nhận về một sự việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người được đăng ký cũng như tổ chức, cá nhân đứng ra thực hiện việc đăng ký. Trước đây, thuật ngữ ĐKDN chưa được sử dụng, mà thường sử dụng thuật ngữ “đăng ký kinh doanh”.
Thậm chí, thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” được áp dụng theo Luật Công ty 1990 đến Luật Doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đã tạo ra bước ngoặt mới trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chính thức thống nhất quy trình đăng ký kinh doanh với đăng ký thuế, áp dụng một mã số duy nhất để định danh cho doanh nghiệp, khái niệm “đăng ký kinh doanh” được thay thế bằng khái niệm “đăng ký doanh nghiệp” từ Nghị định này. Mặt khác, cơ quan thực hiện quản lý ĐKDN hiện nay theo quy định của nhà nước là cơ quan đăng ký kinh doanh. Theo Luật Đầu tư 2020: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh, Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện cá nhân, tổ chức phải đáp ứng khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.” [22, Khoản 8, 9 - Điều 3] Từ đây có thể hiểu: ĐKDN là một thủ tục pháp lý mà theo đó nhà đầu tư phải khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về dự kiến hoạt động của mình theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể, được Nhà nước thừa nhận ghi tên vào sổ ĐKKD, đồng thời cấp cho chủ thể ĐKKD giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là bằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo hộ. ĐKDN được hiểu là một hoạt động pháp lý áp dụng cho các chủ thể kinh 15 doanh khi gia nhập thị trường.