CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG 1. Những vấn đề lý luận về hoạt động cho thuê lại lao động 1. Khái niệm về cho thuê lại lao động Từ trước đến nay với sự phát triển không ngừng trong mọi mặt của đời sống xã hội. Điều này thể hiện rõ vai trò của lao động – đây là một hoạt động không thể thiếu trong sản xuất, kinh doanh, là quá trình sáng tạo của con người nhằm tạo ra những cái mới làm xã hội ngày một tiến bộ hơn.
Theo đó lao động được định nghĩa qua nhiều quan điểm khác nhau cụ thể: Theo định nghĩa Mác – Lenin thì lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người. Ngoài ra, khái niệm về lao động còn được ghi nhận trong các giáo trình học, theo Giáo trình Phân tích lao động xã hội của khoa Kinh tế lao động – Trường Đại học Kinh tế quốc dân thì lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người.1 Để thực hiện các chính sách quản lý, điều chỉnh pháp luật liên quan đến mối quan hệ lao động thì pháp luật nước ta từ những năm 1994 đã ban hành BLLĐ số 35-L/CTN ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 đã nhận định tại “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải, vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tổ quyết định sự phát triển của đất nước. Quan hệ giữa người với người trong lao động nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần được gọi là quan hệ lao động.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, thì mối quan hệ lao động này được xem là một hình thức tất yếu giữa người muốn sử dụng sức lao động của người khác tạo ra vật chất và trả họ thù lao bằng một vật tương ứng với giá trị sức lao động làm ra. Quan hệ trao đổi mua bán hàng hoá sức lao động được xem là bản chất của mối quan hệ lao động. Hợp đồng theo Từ điển tiếng Việt được hiểu: “là sự thoả thuận giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản”. Điều 385 BLDS 2015 có quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thoả 1 Giáo trình Phân tích lao động xã hội của khoa Kinh tế lao động – Trường Đại học Kinh tế quốc dân 7 thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Với sự phát triển không ngừng của xã hội thì quan hệ lao động cũng như nhận thức mới về sức lao động thì bên cạnh luật dân sự thì quan hệ HĐLĐ còn được điều chỉnh bằng các quy định riêng trong BLLĐ 2019, cụ thể như sau:“Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động”. Như vậy, HĐLĐ là sự thoả thuận giữa hai chủ thể, một bên là NLĐ có nhu cầu về việc làm, một bên là NSDLĐ có nhu cầu thuê mướn NLĐ để mua sức lao động. Trong đó, NLĐ cam kết tự nguyện làm một công việc cho NSDLĐ và đặt mình dưới sự quản lý của NSDLĐ và được NSDLĐ trả lương. Hiện nay việc NSDLĐ có thể thỏa thuận với NLĐ thông qua nhiều phương thức khác nhau như tuyển dụng lao động trực tiếp hoặc thuê lại lao động của doanh nghiệp khác.
Việc thuê lại lao động của doanh nghiệp khá phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các quốc gia khác, nhất là ở Mỹ và các nước Tây Âu thì hình thức này là một xu hướng khá thịnh hành trong mối quan hệ lao động. Chính vì sự phổ biến đó ở hầu hết các nước, điều này cũng lý giải có rất nhiều thuật ngữ cũng như định nghĩa mang khái niệm CTLLĐ. Ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ tên gọi phổ biến nhất là “lao động cho thuê tạm thời”, mặc khác ở các nước Châu Á thì gọi là “lao động phái cử”, “cung ứng lao động”, “lao động thuê ngoài”, “lao động dịch vụ”, “lao động tạm thời” hay “lao động cho thuê lại”. Theo pháp luật của Nhật Bản thì lao động phải cử có nghĩa là NLĐ làm thuê cho một NSDLĐ, sau đó được thuê lại để làm việc cho một NSDLĐ khác chịu sự quản lý và điều hành của NSDLĐ đó, tuy nhiên vẫn duy trì mối quan hệ lao động với NSDLĐ trước đó.
Đối với Trung Quốc thì hoạt động CTLLĐ được thực hiện dưới hình thức với tên gọi là “Hợp đồng phái cử” thì việc CTLLĐ hay còn gọi là lao động phái cử được hiểu là việc đơn vị phái cử tuyển dụng lao độn và có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ đối với NLĐ nhưng NLĐ được cử sang làm việc cho một tổ chức, cá nhân, đơn vị khác. Hợp đồng giữa đơn vị nhận phái cử và NLĐ lúc này là hợp đồng phải cử, nhưng giữa NLĐ và đơn vị phái cử là HĐLĐ như bình thường. Ở Việt Nam khái niệm về CTLLĐ được hiểu theo nhiều định nghĩa khác nhau. Năm 2012, hoạt động này chỉ mới được ghi nhận lần đầu tiên trong BLLĐ năm 2012.
BLLĐ năm 2012 của Việt Nam đã định nghĩa về cho thuê lại lao động như sau: “Cho thuê lại lao động là việc người lao động đã được tuyển dụng bởi doanh nghiệp được cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động khác, chịu sự điều hành của người sử dụng lao động sau và vẫn duy trì quan hệ lao động với 8 doanh nghiệp cho thuê lại lao động. Đây cũng là mốc quan trọng mà pháp luật nước ta quy định cụ thể nhằm cho phép hoạt động CTLLĐ được thực hiện trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ này, với tính chất đặc thù nhằm lựa chọn, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cho việc tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực, dễ dàng điều chỉnh nguồn nhân lực trong một thời gian ngắn và tạo điều kiện cho NLĐ thay đổi môi trường làm việc, tăng năng suất lao động. - Hoạt động cho thuê lại lao động là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ được thực hiện bởi các doanh nghiệp có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động và áp dụng đối với một số công việc nhất định (17 ngành nghề) được quy định chi tiết tại khoản 3 Điều 54 NĐ số 55/2013/NĐ-CP về việc cấp phép hoạt động CTLLĐ, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện CTLLĐ có hiệu lực ngày 15/7/2013 quy định về việc giải thích từ ngữ tại Điều 3. Trên cơ sở của những quy phạm pháp luật về hoạt động CTLLĐ được quy định tại BLLĐ 2012, thì tình trạng CTLLĐ diễn ra một cách tự phát mặc dù đây là một hình thức thuê lao động phổ biến lúc bấy giờ được áp dụng rộng rãi.
BLLĐ 2019 được sự kế thừa và sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực trạng của từng thời kỳ phát triển của xã hội ngày nay, định nghĩa về CTLLĐ được hình thành và quy định rõ nét hơn. Theo quy định tại Điều 52, BLLĐ 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, thay thế BLLĐ 2012 đã nêu :“1. Cho thuê lại lao động là việc người lao động giao kết hợp đồng lao động với một người sử dụng lao động là doanh nghiệp Cho thuê lại lao động, sau đó người lao động được chuyển sang làm việc và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động khác mà vẫn duy trì quan hệ lao động với người sử dụng lao động đã giao kết hợp đồng lao động.” Và trong đó: “Hoạt động cho thuê lại lao động là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ được thực hiện bởi các doanh nghiệp có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động và áp dụng đối với một số công việc nhất định”. Nhằm tiếp tục hoàn thiện hơn về các quy định pháp luật cũng như đảm bảo tính pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động CTLLĐ, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về điều kiện lao động và quan hệ lao động có hiệu lực ngày 01/02/2021 tại Điều 12,13,14 quy định về định nghĩa cả 3 chủ thể trên cơ sở của Nghị định số 55/2013/NĐ-CP:“Doanh nghiệp cho thuê lại lao động là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, được cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, có tuyển dụng, giao kết hợp đồng lao động với người lao động, sau đó chuyển người lao động sang làm việc và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động khác mà vẫn duy trì quan hệ lao động 9 với doanh nghiệp đã giao kết hợp đồng lao động (sau đây gọi là doanh nghiệp cho thuê lại).”2 Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra một khái niệm về CTLLĐ: CTLLĐ được hiểu là việc một doanh nghiệp tiến hành tuyển dụng lao động thông qua hình thức hợp đồng được ký kết giữa NLĐ và doanh nghiệp đó.
Sau đó, doanh nghiệp khác có nhu cầu thuê lại trong một thời gian nhất định bằng một hợp đồng khác (hợp đồng CTLLĐ) giữa doanh nghiệp cho thuê và doanh nghiệp thuê lại lao động. Trong thời gian làm việc tại doanh nghiệp thuê lại lao động, NLĐ chịu sự quản lý, điều hành của doanh nghiệp đó, nhưng vẫn duy trì mối quan hệ lao động với doanh nghiệp tuyển dụng. NLĐ (tiền lương, bảo hiểm.) được doanh nghiệp cho thuê lao động bảo đảm được hưởng các quyền, lợi ích theo HĐLĐ đã ký kết trước đó giữa hai bên theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, NLĐ vẫn có thể được hưởng các phúc lợi khác do doanh nghiệp thuê lại lao động thực hiện.
Đặc điểm, hình thức hoạt động cho thuê lại lao động 1.1 Đặc điểm hoạt động cho thuê lại lao động Điều 52 của BLLĐ năm 2019 tiếp tục kế thừa các quy định hợp lý của BLLĐ năm 2012 về định nghĩa hoạt động cho thuê lại lao động và khẳng định hoạt động này là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ được thực hiện bởi các doanh nghiệp có Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động và áp dụng đối với một số công việc nhất định.