phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng với nội dung cơ bản nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về xuất nhập khẩu và pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM THỰC THI CAM KẾT WTO 1.
NHU CẦU VỀ XUẤT KHẨU VÀ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA THỊ TRƢỜNG VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO 1. Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu WTO là tên viết tắt của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (World Trade Organization), đƣợc thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thƣơng mại thế giới ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 15/4/1994. WTO chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995, có trụ sở tại Genava, Thụy Sỹ, là thể chế pháp lý nhằm điều tiết các mối quan hệ kinh tế - thƣơng mại quốc tế mang tính toàn cầu hóa. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định: “toàn cầu hoá kinh tế là một xu hƣớng khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nƣớc tham gia.”, Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc khác đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung vì sự tồn tại và phát triển của chính mình để khỏi bị gạt bỏ ra ngoài lề của sự phát triển.
Chính vì vậy, Việt Nam lựa chọn gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) vừa là một tất yếu khách quan, đồng thời là một xu hƣớng cần thiết trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Gia nhập WTO, Việt Nam có cơ hội tiếp cận và hội nhập vào chu trình sản xuất và kinh doanh toàn cầu nhằm phát triển nền sản xuất trong nƣớc, thu hẹp khoảng cách với các quốc gia phát triển trên thế giới và trong khu vực. Tuy nhiên, gia nhập WTO cũng tạo ra thách thức đối với Việt Nam bởi vì khi gia nhập WTO, bên cạnh việc hƣởng các ƣu đãi khi xuất khẩu vào thị trƣờng các nƣớc thành viên thì Việt Nam cũng phải cam kết dành những quyền ƣu đãi nhất định đối với hàng hóa nhập khẩu vào thị trƣờng Việt Nam từ các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nƣớc thành viên WTO, dẫn đến hàng hóa và sản phẩm của các nƣớc khác sẽ có nhiều cơ hội và thuận lợi để tràn vào thị trƣờng Việt Nam, cạnh tranh với hàng hóa nội địa. Có thể cho rằng những cam kết về hàng hóa của Việt Nam khi gia nhập WTO là nguyên nhân chính thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu sau gia nhập WTO có tốc độ tăng trƣởng đáng kể so với năm 2006.
Thứ nhất, ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), lần đầu tiên Việt Nam mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa “cho phép các doanh nghiệp và cá nhân nƣớc ngoài đƣợc kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp” (trừ một số mặt hàng nhạy cảm do nhà nước độc quyền) và “Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc hƣởng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình tƣơng tự nhƣ nhà đầu tƣ Việt Nam”. Cam kết này đánh dấu một bƣớc tiến quan trọng trong quá trình phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu cũng nhƣ nỗ lực của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Thứ hai, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh so với trƣớc khi gia nhập WTO bởi các thuận lợi sau: - Rào cản ở các nƣớc nhập khẩu ít hơn (thuế nhập khẩu giảm, các hàng rào phi thuế dần đƣợc bãi bỏ cho các nƣớc thành viên WTO…); - Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đƣợc đối xử công bằng hơn trên thị trƣờng thế giới (đƣợc hƣởng Quy chế Tối huệ quốc MFN và Quy chế NT tại nƣớc nhập khẩu); - Các nƣớc thuộc WTO không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng dệt may của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trƣờng các nƣớc này; - Doanh nghiệp dễ dàng định hƣớng hoạt động xuất khẩu của mình hơn do đƣợc tiếp cận với thông tin về thị trƣờng nhập khẩu (WTO yêu cầu mỗi nƣớc thành viên phải công khai và minh bạch chính sách ngoại thƣơng của mình). Thứ ba, theo cam kết WTO của Việt Nam thì Việt Nam buộc phải cắt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giảm rào cản thuế quan và phi thuế quan, giảm bảo hộ và trợ cấp xuất khẩu, bởi vậy hàng nhập khẩu vào Việt Nam nhiều hơn trƣớc.
Trong đó, chủ yếu là các nguyên chính sau: - Giảm thuế nhập khẩu: Mặc dù WTO thừa nhận thuế quan là công cụ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nƣớc (hàng rào phi thuế quan bị bãi bỏ). Tuy nhiên gia nhập WTO có nghĩa là đƣợc quyền tiếp cận tới thị trƣờng của tất cả các thành viên khác trên cơ sở đối xử MFN, nhƣng để đƣợc hƣởng lợi nhuận này buộc các nƣớc mới gia nhập cũng phải cam kết chấp nhận giảm mức bảo hộ của mình. Khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu của 3800 dòng thuế (chiếm 35,5% tỷ trọng), phải dừng ở mức thuế tại thời điểm gia nhập là 3700 dòng thuế (chiếm 34,5% tỷ trọng; mức thuế trần cao hơn mức thuế khi gia nhập WTO là 3170 dòng thuế (chiếm 30% tỷ trọng). Trong đó nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện - điện tử, thịt (lợn, bò), phụ phẩm.
Nhƣ vậy, thuế nhập khẩu giảm là một lợi thế cơ bản cho hàng nhập khẩu tràn vào thị trƣờng Việt Nam và cạnh tranh gay gắt với hàng trong nƣớc. - Thay đổi các biện pháp hạn chế nhập khẩu: Khi gia nhập WTO, Việt Nam buộc phải cho phép nhập khẩu một số mặt hàng mà trƣớc đây Việt Nam không cho phép nhập khẩu do tính chất nhạy cảm của mặt hàng cũng nhƣ nhằm thực hiện chính sách điều tiết thị trƣờng của Nhà nƣớc. Tuy nhiên, khi nhập khẩu các mặt hàng này các doanh nghiệp cũng buộc phải tuân theo các quy định về có hạn chế nhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều kiện, bao gồm: Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007 phù hợp với quy định của Việt Nam; Bỏ biện pháp cấm nhập khẩu ngay từ thời điểm gia nhập WTO đối với mặt hàng thuốc lá điếu và xì gà. Việt Nam cho phép một doanh nghiệp thƣơng mại Nhà nƣớc đƣợc quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điều và xì gà; 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm với mức thuế suất đƣợc xác định trong Biểu cam kết về thuế và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Việt Nam; Việt Nam đảm bảo cơ chế cấp phép nhập khẩu văn hóa phẩm nhằm mục đích kiểm duyệt sẽ tuân thủ theo quy định về minh bạch hóa WTO.
Việt Nam cam kết từ ngày 01/01/2009 sẽ mở cửa thị trƣờng dịch vụ phân phối (trừ một số mặt hàng nhạy cảm). Những ƣu đãi về thuế xuất nhập khẩu đƣợc thiết lập dành cho các quốc gia thành viên trong tổ chức thƣơng mại thế giới có sức hấp dẫn nhất định đối với các doanh nghiệp khi xuất nhập khẩu hàng hóa để hƣởng những ƣu đãi từ các quốc gia thành viên WTO, đồng thời làm tăng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa của thị trƣờng Việt Nam sau khi gia nhập WTO. Nhu cầu xuất khẩu, nhập khẩu của thị trƣờng Việt Nam Từ tháng 1/2007, Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức thƣơng mại thế giới, đánh dấu một giai đoạn mới của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu của thị trƣờng Việt Nam. Trong giai đoạn 2007- 2010, thị trƣờng xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang 219 nƣớc và nhập khẩu từ 151 nƣớc, 165 nƣớc cho Việt Nam hƣởng Quy chế tối huệ quốc, trong đó có 151 nƣớc là thành viên của WTO.
Năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm lên 48,38 tỷ USD, ƣớc tính bằng USD thì tổng kim ngạch xuất khẩu so với GDP đạt 67,9%, thuộc loại cao ở châu Á và thế giới, tăng 21,5% so với năm 2006. Tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu ngƣời đạt khoảng 568 USD, cao nhất từ trƣớc tới nay. Trong năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nƣớc cao hơn tốc độ tăng chung, chứng tỏ khu vực này đã tận dụng đƣợc cơ hội do vị thế mới của thành viên WTO. Nếu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không kể dầu thô bị sút giảm thì kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác của khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (FDI) còn tăng cao hơn khu vực kinh tế trong nƣớc, khu vực FDI đã tận dụng tốt hơn cơ hội WTO.
Xuất khẩu tăng ở hầu hết các mặt hàng, trong đó có những mặt hàng có kim ngạch tăng khá cao: dệt may, điện tử máy tính, hàng thủ công mỹ nghệ, dây điện và cáp điện, sản phẩm nhựa, gỗ, cà phê, hạt tiêu, hạt điều. Đã có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính, cà phê, gạo và cao su với kim ngạch đạt 33 tỷ USD, chiếm 68,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc. Tổng kim ngạch nhập khẩu ƣớc đạt 60,83 tỷ USD, cũng là mức kỷ lục từ trƣớc tới nay, tăng tới 35,5% so với năm trƣớc, có 13 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên. Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt trên 10 tỷ USD, xăng dầu đạt trên 7 tỷ USD, sắt thép đạt gần 5 tỷ USD, vải 4 tỷ USD, điện tử máy tính và linh kiện đạt gần 3 tỷ USD.
Do tốc độ tăng nhập khẩu cao gấp rƣỡi tốc độ tăng xuất khẩu, nên nhập siêu đã gia tăng so với cùng kỳ năm trƣớc cả về kim ngạch tuyệt đối (12,45 tỷ USD so với gần 5,1 tỷ USD) và cả về tỷ lệ so với xuất khẩu (25,6% so với 12,7%).