Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thuế và thuế TTĐB Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế TTĐB Chương 3: Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế TTĐB ở Việt Nam hiện nay 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT 1. Lý luận chung về thuế 1. Khái niệm Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau, mỗi quan điểm đều nhấn mạnh một chiều theo từng góc độ khác nhau.
Mặc dù đến nay còn nhiều tranh cãi về khái niệm của thuế nhưng các nhà kinh tế đều thống nhất rằng, để làm rõ bản chất của thuế thì định nghĩa của thuế phải nêu bật được các nội dung sau: - Thứ nhất, thuế là một khoản thu không bồi hoàn, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. Nộp thuế cho Nhà nước không có nghĩa là cho Nhà nước mượn tiền hay gửi tiền vào ngân sách Nhà nước hoặc là mua một dịch vụ công.Nộp thuế là một nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân. - Thứ hai, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc, để đảm bảo tập trung thuế trên phạm vi toàn xã hội. Chính phủ phải sử dụng hệ thống pháp luật nên thuế thường được quy định dưới dạng văn bản pháp luật hay pháp lệnh.
Cho nên, trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là những hành vi phạm pháp và phải chịu xử phạt về hành chính hoặc hình sự. - Thứ ba, các pháp nhân và thể nhân chỉ nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định. Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về thuế như sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội”[27]. Phân loại thuế Lợi ích của việc phân loại thuế là tạo ra một cách tiếp cận tổng hợp đối với cơ cấu thuế.
Căn cứ theo đặc điểm, công dụng, chức năng và vai trò của từng loại thuế đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và tùy theo mục tiêu, yêu cầu của quản lý mà người ta có thể đưa ra các cách phân loại thuế khác nhau, từ đó nhằm sử dụng phát huy vai trò tích cực của từng công cụ thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu: 1. Phân loại theo tính chất kinh tế Theo cách này, thuế có thể được phân loại dựa vào ba tiêu chí chủ yếu: theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế; theo tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc theo lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế. Nếu dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế được chia thành: - Thuế đánh vào thu nhập: bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức, cổ phần …, bao gồm: + Thuế thu nhập doanh nghiệp: là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế.
+ Thuế thu nhập cá nhân: là loại thuế đánh vào thu nhập cá nhân gồm: tiền lương, tiền công, lợi tức cổ phần và các khoản thu nhập khác. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập): là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại. Bao gồm các dạng như: + Thuế giá trị gia tăng: là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng. + Thuế tiêu thụ đặc biệt; - Thuế đánh vào tài sản: là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản.
Nếu dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại: - Thuế đánh vào doanh nghiệp - Thuế đánh vào hộ gia đình - Thuế đánh vào sản phẩm Nếu dựa theo lĩnh vực: thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế, ví dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào bất động sản … 1. Phân loại theo tính chất kỹ thuật Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế, mang tính chất cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm của các cuộc tranh luận. Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ yếu sau: Thuế trực thu và thuế gián thu: - Thuế trực thu: là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân. Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế.
Ở nước ta hiện nay thuế trực thu bao gồm: + Thuế thu nhập doanh nghiệp + Thuế thu nhập cá nhân 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Thuế chuyển quyền sử dụng đất - Thuế gián thu: là loại thuế do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc người cung cấp dịch vụ nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho người tiêu dùng chịu. Ở nước ta hiện nay, thuế gián thu bao gồm: + Thuế giá trị gia tăng + Thuế tiêu thụ đặc biệt + Thuế xuất khẩu + Thuế nhập khẩu Thuế tỷ lệ và thuế lũy tiến: - Thuế tỷ lệ: là loại thuế áp dụng một thuế suất như nhau đối với mọi đối tượng chịu thuế. - Thuế lũy tiến: là loại thuế áp dụng các thuế suất tăng dần đối với nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế. Thông thường, đối với các sắc thuế tiêu dùng thường áp dụng thuế suất tỷ lệ; đối với các sắc thuế thu nhập, thuế tài sản có thể áp dụng thuế suất lũy tiến.
Thuế theo mức riêng biệt hoặc thuế theo giá trị: - Loại thuế có mức riêng biệt: (cũng có thể được dịch là thuế đặc biệt, quen được gọi là thuế tuyệt đối) Nếu trong đó, mức thuế suất được xác định bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng lượng, khối lượng, diện tích…), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng. - Thuế tính theo giá trị: là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn cứ tính thuế. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại theo tính chất hành chính Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng, thuế được phân thành hai loại: - Thuế nhà nước (quốc gia) - Thuế địa phương Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung – dân chủ: Trung ương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền không được phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng.
Tất cả các nguồn thu thuế do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các địa phương, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiện theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước. Vì vậy, hiện hành ở nước ta không sử dụng cách phân chia này. Vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội 1. Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách nhà nước Đây là vai trò quan trọng nhất của thuế đối với nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân, ngân sách Nhà nước. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân. - Thứ nhất, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước Thuế chiếm một tỷ trọng rất lớn trong thu ngân sách nhà nước. Nhà nước có thể thu ngân sách từ nhiều nguồn khác nhau nhưng không có nguồn thu nào ổn định và bền vững bằng thuế.
Vì mang tính không hoàn trả trực tiếp nên thuế là công cụ chủ yếu để thu ngân sách, phục vụ các chỉ tiêu của quốc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia mà không phải lo lắng về nghĩa vụ bồi hoàn hay trả nợ. Hàng năm, thuế luôn đóng góp khoảng trên 90% vào tổng thu ngân sách Nhà nước [35].1: Tỷ lệ đóng góp của thuế trong tổng thu ngân sách Nhà nƣớc [35] Đơn vị (tỷ đồng) Năm 2008 2009 2010 Dự toán thu NSNN 323.500 Thu từ thuế, phí 300.536 Thuế/tổng thu NSNN 93% 93,5% 93.7% Có thể nói, bằng nhiều nỗ lực cải cách thuế trong những năm qua đã mang lại những kết quả đáng kể, thu ngân sách liên tục gia tăng. Năm 2012, tổng thu thuế của Việt Nam đạt 638.000 tỷ đồng, gấp gần 3,3 lần so với số thu thuế năm 2005. Mức tăng trưởng thu thuế phù hợp với mức tăng trưởng GDP, vì vậy tỷ lệ động viên từ thuế trên GDP trong 10 năm qua khá ổn định, ở mức 23% - 24% tổng GDP.
Riêng trong năm 2013, tổng thu ngân sách Nhà nước của cả nước đạt hơn 816.800 tỷ đồng, bằng 101 % dự toán năm, tăng xấp xỉ gần 10% so với cùng kỳ năm 2012[33]. Với việc đóng góp một tỷ trọng cao và ngày càng tăng lên trong tổng thu ngân sách Nhà nước, thuế đang ngày càng chứng tỏ vai trò chủ đạo của mình trong việc huy động tài chính công phục vụ chi tiêu cho cả quốc gia. -Thứ hai, thuế là nguồn động viên GPD vào ngân sách Nhà nước Thuế là nguồn động viên GDP vào ngân sách Nhà nước để Chính phủ có tiền thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu công, nhằm thực hiện việc phân phối lại tổng sản phẩm cho xã hội.Hiện nay, thuế chiếm khoảng 20% GDP[36]. Giai đoạn 2001 – 2005: Tổng thu nội địa năm 2005 ước đạt 170.500 tỷ đồng, tăng 19.1% so với cùng kỳ.