CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế thu nhập công ty) Thuế thu nhập là tên gọi để chỉ những sắc thuế lấy thu nhập làm đối tượng tính thuế. Trong hệ thống thuế ở các quốc gia, thuế thu nhập là loại thuế áp dụng có tính phổ biến và rất được coi trọng, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Sự ra đời của thuế thu nhập bắt nguồn từ các lý do chính sau: Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập đảm bảo công bằng xã hội. Thứ hai, sự ra đời của thuế thu nhập còn bắt nguồn từ nhu cầu tài chính của nhà nước, nhà nước nào cũng cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, cùng với xu thế phát triển kinh tế xã hội, khả năng mang lại thu nhập cho mỗi người ngày càng cao, nhà nước tìm thấy khả năng huy động nguồn tài chính to lớn cho mình thông qua thuế thu nhập.
Thứ ba, thuế thu nhập là công cụ để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội. Trong hệ thống luật thực định về thuế ở các nước, thuế thu nhập được phân chia thành hai loại là thuế thu nhập công ty (thuế TNDN) và thuế thu nhập cá nhân. Việc phân chia thuế thu nhập thành hai loại thuế nêu trên là căn cứ vào đối tượng nộp thuế thu nhập. Thuế thu nhập công ty (thuế TNDN) là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cơ sở kinh doanh trong kỳ tính thuế.
Tuy nhiên, luật các nước không có sự đồng nhất trong việc xác định phạm vi đối tượng nộp thuế. Chẳng hạn, Luật Thuế thu nhập công ty của Thụy Điển quy định: “Các công ty, các chủ thể kinh doanh có số vốn từ 50.000 Curon trở lên và có lao động làm thuê thì được coi là đối tượng nộp thuế thu nhập công ty”. Còn Bộ luật thuế thu nhập công ty của Thái Lan quy định: “Đối tượng nộp thuế thu nhập công ty chỉ bao gồm các công ty và các tổ chức hùn vốn có tư cách pháp nhân”. Pháp luật Mỹ, Nhật quy định: “Chủ thể kinh doanh là Đinh Hải Yến – CH12 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp các tổ chức kinh tế thì phải nộp thuế thu nhập công ty”.
Trong khi đó pháp luật thuế TNDN của Việt Nam lại quy định đối tượng nộp thuế TNDN là các tổ chức, cá nhân kinh doanh có thu nhập. Như vậy, ở Việt Nam cá nhân kinh doanh, hộ gia đình có thu nhập từ kinh doanh cũng là đối tượng nộp thuế TNDN [18, tr. Thuế thu nhập công ty ở các nước đều quy định tính thu nhập chịu thuế trong một khoảng thời gian xác định là năm tài chính. Thu nhập chịu thuế được tính trên cơ sở là doanh thu trừ chi phí hợp lý cộng với các khoản thu nhập khác.
Đa số các nước đều áp dụng thuế suất thuế thu nhập công ty theo tỷ lệ phần trăm cố định để đảm bảo công bằng và thuận lợi trong công tác quản lý thu nộp thuế. Đồng thời, thuế thu nhập công ty ở các nước đều có quy định về chế độ ưu đãi thuế, miễn giảm thuế. Tuy nhiên do chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia là khác nhau mà các nước có sự quy định về ưu đãi thuế cho ngành nghề, lĩnh vực đầu tư khác nhau. Ở Việt Nam, thuế TNDN cũng có quy định về mức thuế suất ưu đãi, về các trường hợp được miễn, giảm thuế cho các đối tượng kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư theo chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.
Ở hầu hết các nước, thuế thu nhập là nguồn thu của chính quyền trung ương. Thuế TNDN tác động lớn tới sự phân phối thu nhập, tiền lương, tác động đến khả năng khai thác, thu hút vốn đầu tư, tác động tới việc di chuyển vốn và có thể làm thay đổi cơ cấu kinh tế… nên chính phủ của các quốc gia luôn quan tâm và hướng tới việc hoàn thiện loại thuế này.2 Quan niệm pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế không chỉ gắn liền mà chúng còn có một ảnh hưởng rất lớn đối với thu nhập cũng như những chính sách, chiến lược phát triển riêng của các DN trong từng giai đoạn khác nhau. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, thuế xếp thứ 4 trong trong 5 yếu tố cơ bản để thu hút đầu tư (đứng sau cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính và chất lượng lao động). Ưu đãi thuế là một trong những yếu tố không thể thiếu trong tất cả các sắc thuế.
Vì chính sách ưu đãi thuế không những thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối Đinh Hải Yến – CH12 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp với các đối tượng nộp thuế khi họ gặp các rủi ro khách quan dẫn đến tổn thất tài sản hoặc thu nhập, thể hiện sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người nộp thuế mà quan trọng hơn nữa chính sách ưu đãi thuế là công cụ để nhà nước quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội. Gần đây, do tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng gay gắt hơn nên nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã sử dụng thuế TNDN, đặc biệt là nội dung ưu đãi thuế TNDN, như là một công cụ quan trọng để tăng sức hấp dẫn thu hút đầu tư. Hiện nay, các quốc gia thường sử dụng chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế TNDN để thực hiện mục tiêu điều tiết nền kinh tế xã hội của mình. Thông thường các nước áp dụng chế độ ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN cho các lĩnh vực quan trọng, các ngành mũi nhọn hoặc có lợi thế phát triển và các ngành tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh của từng nước.
Tuy nhiên, trong chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế TNDN có sự khác biệt lớn giữa các nước, điều này được lý giải bởi lý do: - Về mặt chủ quan, chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế TNDN phụ thuộc vào chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Mỗi quốc gia theo đuổi một mục tiêu kinh tế cho riêng mình nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, vững chắc và sớm khắc phục được những khiếm khuyết nội tại trong chính nền kinh tế của quốc gia đó. - Về mặt khách quan, do trình độ phát triển kinh tế cũng như các điều kiện tự nhiên, lịch sử truyền thống văn hoá, xã hội của từng nước có sự khác nhau. Nên chính phủ của các quốc gia phải có những quy định về ưu đãi, miễn giảm thuế TNDN để có thể thích ứng được mong muốn chủ quan của mình.
Theo báo cáo của Hội nghị về thương mại và phát triển thuộc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc (UNCTAD) 1996, “ưu đãi đầu tư là những lợi thế kinh tế có thể lượng hóa được mà chính phủ của các quốc gia dành cho những DN hoặc những nhóm DN nhất định nhằm khuyến khích họ xử sự theo một cách thức nhất định” [21, tr. Đinh Hải Yến – CH12 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp Theo UNCTAD, ưu đãi đầu tư được chia làm 3 loại: ưu đãi về thuế, ưu đãi về tài chính và các ưu đãi khác. Trong đó, ưu đãi về thuế được hiểu là những quy định về biện pháp nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế cho các nhà đầu tư, phổ biến là thuế nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào, máy móc thiết bị và các tài sản cố định khác liên quan đến quá trình sản xuất; thuế xuất khẩu (ưu đãi thuế đối với các khoản thu nhập từ xuất khẩu, hoàn thuế, khấu trừ thuế đối với thuế nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất hàng xuất khẩu); thuế TNDN (căn cứ vào hàm lượng nội địa có trong sản phẩm. Kế đến, ưu đãi tài chính là các quy định về biện pháp đặc biệt do nhà nước dành cho các DN liên quan đến quá trình huy động vốn của các DN này, ví dụ như cho vay với lãi suất ưu đãi; chính phủ hoặc cơ quan của chính phủ cấp tiền, tín dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp dưới hình thức góp cổ phần.
Và cuối cùng, ưu đãi khác được hiểu là nhà nước thực hiện các biện pháp nhằm tăng khả năng sinh lời của các dự án đầu tư theo những cách gián tiếp, ví dụ cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng dưới mức thương mại thông thường [20]. Như vậy, pháp luật về ưu đãi thuế TNDN được hiểu là những quy định về những biện pháp, những lợi thế nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế TNDN cho các nhà đầu tư, khuyến khích và thu hút đầu tư mà Nhà nước dành cho những DN hoặc những nhóm DN nhất định (ưu đãi về thuế suất, thời gian miễn giảm.) so với những đối tượng chịu thuế khác trong cùng điều kiện nhất định. Pháp luật ưu đãi thuế TNDN được coi là một bộ phận trong chiến lược khuyến khích phát triển của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Khi nói đến chiến lược của một đất nước là nói về quan điểm, cách nhìn nhận chính thống của nhà nước đó về một lĩnh vực, một hoạt động trong một giai đoạn nhất định.
Các quan điểm chính thống của nhà nước thuộc phạm trù ý chí. Để cụ thể hoá các quan điểm chính thống này, nhà nước thông qua hình thức các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể. Hệ thống chính sách về ưu đãi thuế TNDN là tổng hợp hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi thuế TNDN được ban hành trong một giai đoạn nhất định để thực hiện đầy đủ các chức năng của thuế, cụ thể hoá các quan điểm, thực Đinh Hải Yến – CH12 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hiện mục tiêu chiến lược chung của đất nước. Trong mỗi quốc gia khác nhau, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật cũng khác nhau.