Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống chính sách thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô then chốt, bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước bền vững khi các hàng rào thuế quan dần bị cắt giảm. Theo các báo cáo kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, trong đó hơn 80% doanh nghiệp tư nhân thuộc nhóm có quy mô vốn nhỏ và siêu nhỏ. Tuy nhiên, việc áp dụng đồng thời Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 đã bộc lộ nhiều điểm bất cập về mặt kỹ thuật lập pháp đối với mô hình công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của luận văn tập trung vào sự bất tương thích giữa quy chế trách nhiệm tài sản vô hạn theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và cơ chế xác định đối tượng nộp thuế thu nhập. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế thu nhập, phân tích thực trạng điều chỉnh pháp luật thuế từ giai đoạn 1990 đến năm 2009, so sánh với các quy chuẩn pháp lý quốc tế, và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách thuế thu nhập đối với hai mô hình kinh doanh đối nhân này.

Phạm vi nghiên cứu bao quát thực tiễn thực thi pháp luật trên toàn quốc với trọng tâm khảo sát tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1990 đến năm 2010. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc giải quyết nguy cơ đánh thuế trùng hai lần, hướng tới thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng, giảm bớt gánh nặng thuế thực tế từ mức hơn 51% xuống mức hợp lý khoảng 25% đến 35%, đồng thời thúc đẩy số lượng công ty hợp danh phát triển mạnh mẽ thay vì con số chỉ 17 đơn vị đăng ký hoạt động tại Hà Nội trước năm 2008.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 2 học thuyết kinh tế - pháp lý kinh điển: Lý thuyết phân phối thu nhập và tính hữu dụng biên giảm dần của John Maynard Keynes cùng nguyên lý công bằng trong đánh thuế theo khả năng chi trả của Montesquieu và Adam Smith. Theo đó, hệ thống thuế tối ưu phải đảm bảo nguyên tắc điều tiết dòng thặng dư mà không làm triệt tiêu động lực tích lũy vốn của các chủ thể kinh doanh.

Luận văn vận dụng mô hình phân loại hệ thống thuế thu nhập cổ điển và mô hình thuế thu nhập liên kết khấu trừ để làm sáng tỏ các mối quan hệ lợi ích. Trong đó, tác giả tập trung mổ xẻ 5 khái niệm pháp lý trọng tâm:

  • Thu nhập chịu thuế ròng: Khoản thặng dư kinh tế sau khi trừ chi phí hợp lý.
  • Trách nhiệm tài sản vô hạn: Nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ bằng toàn bộ tài sản hiện có và tương lai của thành viên hợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân.
  • Tư cách pháp nhân kinh tế: Khả năng sở hữu sản nghiệp độc lập và tự chịu trách nhiệm tài sản.
  • Đánh thuế trùng lặp: Hiện tượng một dòng thu nhập bị điều tiết hai lần qua cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
  • Cơ chế thực thể minh thông thuế: Phương thức chỉ đánh thuế thu nhập cá nhân đối với các thành viên góp vốn mà không đánh thuế ở cấp độ công ty.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp so sánh luật học. Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng bao gồm dữ liệu tổng hợp của hơn 59.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập tại Hà Nội tính đến ngày 31/11/2007 (trong đó có 17 công ty hợp danh, 2.921 doanh nghiệp tư nhân, 33.327 công ty trách nhiệm hữu hạn và 21.061 công ty cổ phần) cùng chuỗi số liệu thu ngân sách nhà nước từ thuế thu nhập cá nhân giai đoạn 1991 - 2008.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đối chiếu giữa các trung tâm kinh tế lớn để làm rõ sự chênh lệch trong cơ cấu loại hình doanh nghiệp. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích chuẩn tắc và so sánh luật học là để đối chiếu các quy phạm của Việt Nam với các chuẩn mực thuế của Nhật Bản (nơi thuế thu nhập chiếm 35% đến 47% tổng thu ngân sách) và Trung Quốc (quốc gia có nguồn thu thuế năm 2007 đạt trên 4.940 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 670 tỷ USD). Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ và các báo cáo chuyên đề từ năm 1990 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn phát hiện sự mất cân đối nghiêm trọng về mặt cấu trúc khi công ty hợp danh gần như bị triệt tiêu trên thị trường. Số liệu thực tế tại Hà Nội cho thấy chỉ có 17 công ty hợp danh trong tổng số hơn 59.000 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ danh nghĩa chưa đầy 0,03%, trong khi doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 4,9% và công ty TNHH chiếm trên 56%. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 trao tư cách pháp nhân cho công ty hợp danh nhưng lại buộc thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn, dẫn đến việc họ phải chịu hai tầng thuế: Thuế thu nhập doanh nghiệp 25% tại công ty và thuế thu nhập cá nhân tối đa 35% khi chia lợi nhuận.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                SO SÁNH GÁNH NẶNG NGHĨA VỤ THUẾ THỰC TẾ                  |
+------------------------------------+------------------+-----------------+
| Chỉ tiêu tính toán                 | Cá nhân kinh     | Doanh nghiệp    |
| (Đơn vị: Triệu VNĐ)                | doanh độc lập    | tư nhân         |
+------------------------------------+------------------+-----------------+
| Thu nhập chịu thuế danh định       | 100,00           | 100,00          |
| Thuế TNDN tạm tính (25%)           | Không áp dụng    | 25,00           |
| Thu nhập còn lại sau thuế TNDN     | 100,00           | 75,00           |
| Thuế TNCN (Thuế suất lũy tiến 35%) | 35,00            | 26,25           |
| Tổng số thuế thực tế phải nộp      | 35,00            | 51,25           |
| Tỷ lệ điều tiết thuế thực tế (%)   | 35,00%           | 51,25%          |
+------------------------------------+------------------+-----------------+

Thứ hai, việc xếp doanh nghiệp tư nhân vào diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tạo ra sự bất hợp lý về mặt bản chất tài sản. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, tài sản của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp là một thể thống nhất không tách rời. Nếu áp dụng đồng thời hai sắc thuế, tổng gánh nặng thuế thực tế lên tới 51,25%, chênh lệch cao hơn 16,25% so với mức thuế suất 35% của hộ cá nhân kinh doanh.

Thứ ba, sự ban hành của Công văn số 11971/BTC-TCT ngày 26/8/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn không thu thuế thu nhập cá nhân đối với phần lợi nhuận còn lại của chủ doanh nghiệp tư nhân là một giải pháp tình thế nhằm tránh việc đánh thuế hai lần, nhưng văn bản này chưa giải quyết triệt để vấn đề ở cấp độ đạo luật, tạo ra xung đột kỹ thuật giữa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu chứng minh rằng chính sách thuế thu nhập hiện hành đang làm sai lệch bản chất của các loại hình tổ chức kinh doanh. So sánh với pháp luật của Đức, Anh và Hoa Kỳ, các mô hình công ty hợp danh và cơ sở kinh doanh một chủ đều được xếp vào diện thực thể minh thông thuế; dòng thu nhập chỉ bị đánh thuế một lần trực tiếp vào thu nhập của các thành viên hoặc chủ cơ sở kinh doanh. Ngay tại Nhật Bản, hệ thống quản lý dựa trên việc tự kê khai và khấu trừ gia cảnh đã giúp tỷ trọng thu từ thuế thu nhập ổn định ở mức 35% đến 47% tổng thu ngân sách, bảo đảm tính công bằng tuyệt đối cho các thực thể chịu trách nhiệm vô hạn.

Về phương thức biểu diễn trực quan, các dữ liệu có thể được mô hình hóa qua biểu đồ phân bố cơ cấu doanh nghiệp theo loại hình sở hữu và biểu đồ cột so sánh mức độ điều tiết thuế lũy tiến giữa các chủ thể. Dữ liệu khẳng định rằng nếu quy định pháp lý không minh bạch về phân định tài sản, các nhà đầu tư sẽ né tránh việc thành lập công ty hợp danh, làm suy giảm sự phát triển của các ngành dịch vụ chuyên môn cao như luật, kiểm toán, y tế và thiết kế kiến trúc - vốn là những lĩnh vực đòi hỏi trách nhiệm cá nhân vô hạn gắn liền với chứng chỉ hành nghề.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và bảo đảm tính công bằng kinh tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân: Ban hành quy định chuyển đổi cơ chế tính thuế, loại bỏ doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh ra khỏi diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, áp dụng cơ chế đánh thuế thông qua thu nhập cá nhân của chủ sở hữu và từng thành viên hợp danh. Target metric: Giảm gánh nặng thuế thực tế của chủ cơ sở kinh doanh từ mức 51,25% về mức trần tối đa 35% theo biểu thuế lũy tiến từng phần; timeline triển khai trong giai đoạn 2011 - 2013; chủ thể thực hiện là Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Hoàn thiện chế định tư cách pháp nhân trong Luật Doanh nghiệp: Tái cấu trúc quy chế pháp lý của công ty hợp danh, phân định rõ công ty hợp danh thông thường và công ty hợp danh hữu hạn, đồng thời điều chỉnh lại quy định về tư cách pháp nhân của công ty hợp danh để phù hợp với bản chất công ty đối nhân. Target metric: Nâng tỷ lệ đăng ký thành lập công ty hợp danh trong lĩnh vực dịch vụ chuyên môn lên ít nhất 5% đến 10% tổng số doanh nghiệp mới; timeline thực hiện trong kỳ sửa đổi Luật Doanh nghiệp tiếp theo; chủ thể thực hiện là Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ.
  • Nâng cấp quy trình quản lý và tự kê khai thuế: Xây dựng cổng thông tin quản lý thuế thu nhập tích hợp, tự động hóa khấu trừ chi phí kinh doanh hợp lý và chiết trừ gia cảnh tương tự mô hình quản lý của Nhật Bản. Target metric: Tăng tỷ lệ hồ sơ tự kê khai thuế chính xác lên trên 90%, giảm 40% chi phí hành thu và thời gian quyết toán của người nộp thuế; timeline hoàn thành trong vòng 24 tháng; chủ thể thực hiện là Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính.
  • Đồng bộ hóa quy định xác định tài sản và cơ chế kế toán: Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết về phân định tài sản chung - riêng của vợ chồng trong kinh doanh thương mại và ban hành chế độ kế toán đơn giản hóa cho doanh nghiệp tư nhân. Target metric: Bảo đảm 100% doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh có hệ thống sổ sách kế toán chuẩn mực, minh bạch hóa dòng tiền; timeline thực hiện thường xuyên từ năm 2012; chủ thể thực hiện là Bộ Tài chính và Tòa án nhân dân tối cao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Đại biểu Quốc hội, Ban soạn thảo luật thuộc Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính có thể khai thác các luận cứ khoa học để hoàn thiện dự thảo sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật Doanh nghiệp, loại bỏ tận gốc hiện tượng đánh thuế trùng lặp.
  • Cơ quan quản lý thuế các cấp: Cán bộ thuộc Tổng cục Thuế và Cục Thuế các địa phương sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu nghiệp vụ, nắm vững bản chất pháp lý của Công văn 11971/BTC-TCT nhằm áp dụng chính xác các quy chế miễn, giảm và thanh tra thuế đối với doanh nghiệp tư nhân.
  • Luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý và thuế: Các đoàn luật sư, công ty luật và hiệp hội kiểm toán tham khảo để tư vấn tái cấu trúc mô hình hoạt động tối ưu cho khách hàng, cân nhắc lợi ích giữa mô hình công ty TNHH và công ty hợp danh dựa trên phân tích dòng tiền và gánh nặng thuế thực tế.
  • Giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng công trình như một nguồn tài liệu học thuật chuẩn mực để phục vụ công tác giảng dạy, viết luận văn, đào tạo chuyên sâu về pháp luật thuế so sánh và pháp luật doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc áp dụng đồng thời thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân lại gây bất lợi cho công ty hợp danh?
Bởi vì công ty hợp danh bị coi là một pháp nhân chịu thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 25%, sau đó phần lợi nhuận chia cho thành viên hợp danh lại tiếp tục bị tính thuế thu nhập cá nhân. Quy định này làm tăng tổng thuế suất thực tế lên trên 51%, khiến loại hình này mất sức cạnh tranh nghiêm trọng so với công ty TNHH.

Doanh nghiệp tư nhân có phải nộp thuế thu nhập cá nhân sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hay không?
Theo hướng dẫn tại Công văn số 11971/BTC-TCT ngày 26/8/2009 của Bộ Tài chính, chủ doanh nghiệp tư nhân không phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần lợi nhuận còn lại sau khi doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tránh việc đánh thuế hai lần lên cùng một nguồn thu nhập.

Điểm khác biệt cơ bản giữa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn trong công ty hợp danh là gì?
Thành viên hợp danh bắt buộc là cá nhân có trình độ chuyên môn, chịu trách nhiệm vô hạn và trực tiếp tham gia quản lý công ty. Ngược lại, thành viên góp vốn có thể là cá nhân hoặc tổ chức, chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn đã cam kết góp và không tham gia điều hành hoạt động kinh doanh.

Kinh nghiệm quốc tế của Nhật Bản và Đức xử lý nghĩa vụ thuế của công ty hợp danh như thế nào?
Tại Đức và các nước theo hệ thống thông luật, công ty hợp danh được coi là thực thể minh thông thuế, không phải chịu thuế thu nhập công ty. Toàn bộ lợi nhuận được phân bổ trực tiếp cho từng thành viên để họ thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân theo biểu thuế lũy tiến dựa trên mức chiết trừ gia cảnh cụ thể.

Làm thế nào để khuyến khích phát triển mô hình công ty hợp danh tại Việt Nam trong tương lai?
Giải pháp cốt lõi là sửa đổi khung pháp luật thuế theo hướng miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho công ty hợp danh, chỉ thu một lần thuế thu nhập cá nhân của các thành viên. Đồng thời, cần chuẩn hóa điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề đối với các ngành dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp như kiểm toán, y tế và luật.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách thuế thu nhập đối với công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2009.
  • Chỉ rõ xung đột pháp lý căn bản giữa chế độ trách nhiệm vô hạn theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và cơ chế đánh thuế kép theo các luật thuế hiện hành.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc áp dụng mô hình thực thể minh thông thuế theo chuẩn mực quốc tế của Nhật Bản, Đức và Trung Quốc nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng kinh tế.
  • Đề xuất lộ trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và nâng cấp hạ tầng quản lý thuế trong giai đoạn 2011 - 2015, giảm tải gánh nặng thuế thực tế cho nhà đầu tư từ mức hơn 51% về mức 25% đến 35%.
  • Đóng góp luận cứ khoa học vững chắc giúp các nhà lập pháp, chuyên gia luật và cộng đồng doanh nghiệp xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các chủ thể kinh doanh.