Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về thuế thu nhập đối với Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật Việt Nam. Thực trạng chính sách thuế thu nhập đối với Công ty Hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân từ năm 1990 đến nay. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện thuế thu nhập đối với Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật Việt Nam.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI CÔNG TY HỢP DANH VÀ DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN 1. Khái quát về thuế thu nhập 1. Khái niệm thu nhập và thuế thu nhập 1.
Khái niệm thu nhập Nhà kinh tế học người Mỹ Paul .Samuelson đưa ra đinh ̣ nghiã về thu nhâ ̣p như sau: “thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định, (thường là một năm)” [29]. Thuâ ̣t ngữ “tiề n” ở đây đươ ̣c hiể u là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền , nó bao gồm cả phần sản xuất để tự tiêu dùng , nhâ ̣n đươ ̣c từ các hoa ̣t đô ̣ng sản xuấ t , kinh doanh, dịch vụ, từ lao đô ̣ng hoă ̣c không lao đ ộng, từ quyề n sở hữu về tài sản , về tiề n mà có hoă ̣c tiêu dùng các dich ̣ vu ̣ không phải thanh toán. Theo từ điển Winkipedia: Thu nhập trong kinh tế học vi mô là phần chênh lệch giữa khoản thu về và khoản chi phí đã bỏ ra. Loại thu nhập nay lại gồm thu nhập từ lao động (tiền công, tiền lương bao gồm cả lương hưu, các khoản trợ cấp bao gồm cả học bổng) và thu nhập tài chính (lãi tiết kiệm, lãi mua bán chứng khoán, thu từ cho thuê bất động sản ) và các thu nhập khác (tiền thưởng…) [40].
Đinh ̣ nghĩa về thu nhập trong từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra như sau , thu nhập là số tiền, hàng hóa hoặc dịch vụ mà một cá nhân, công ty hay một nền kinh tế nhận trong một khoảng thời gian nhất định theo tháng, quý hoặc năm”, thu nhập được tạo nên từ lao động, từ chuyển giao tài sản [39]. Thu nhâ ̣p là mô ̣t pha ̣m trù trừu tươ ̣ng. Khái niệm thu nhập dưới góc độ kinh tế và khái niê ̣m thu nhâ ̣p dưới góc đô ̣ pháp lý là không hoàn toàn giố ng nhau. Xét dưới góc độ kinh tế, thu nhập là tổng các giá trị nhận được, thu được trong khoảng thời gian nhất định của một chủ thể (các giá trị ở đây được biểu hiện bằng tiền tệ, giá trị các hình thức vật chất, phi vật chất, không phân biệt nguồn hình thành thu nhập là từ lao động hay tài sản); Xét dưới góc độ pháp lý, thu nhập là các khoản tiền hoặc vật chất mà các chủ thể nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc từ các hành vi hợp pháp khác và được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh thu và chi phí tạo ra doanh thu và thu nhập khác.
Có thể khái quát thu nhâ ̣p là toàn bô ̣ quyề n lơ ̣i kinh tế mà cá nhân hoă ̣c tổ chức nhâ ̣n đươ ̣c trong mô ̣t thời kỳ nhấ t đinh ̣ (thường là mô ̣t năm ) bao gồ m cả chi phí bỏ ra và giá trị gia tăng nhận về từ việc bỏ ra đó. Về hình thức, quyền lợi kinh tế này có thể là tiền bạc, hàng hóa, dịch vụ hay một đặc quyền ưu đãi nào đó mà cá nhân hoặc tổ chức này chắc chắn nhận được. Về nguồn gốc, quyền lợi kinh tế này có thể xuất phát từ hoạt động kinh doanh (bao gồm cả sản xuất, buôn bán. Hoạt động làm công có thể xem như là hoạt động cung cấp sức lao động) và các hoạt động không kinh doanh.
Trong đó, thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gọi là doanh thu, thu nhập từ các hoạt động không kinh doanh của doanh nghiệp gọi là thu nhập khác. Khái niệm Thuế thu nhập Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của các tổ chức kinh doanh, các cá nhân có thu nhập phát sinh từng lần hoặc trong một khoảng thời gian xác định từ một số nguồn nhất định. Nó biểu hiện sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế thu nhập không có khả năng chuyển giao gánh nặng cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế.
Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn tài chính thông qua thuế thu nhập ngày càng nhiều. Với ưu điểm đảm bảo sự công bằng trong việc điều tiết thu nhập thặng dư của người nộp thuế, trong hệ thống thuế ở các quốc gia, thuế thu nhập là loại thuế áp dụng có tính phổ biến và rất được coi trọng, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Cơ sở ra đời của thuế thu nhập Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập đảm bảo công bằng xã hội. Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường, việc phân phối thu nhập chủ yếu thông qua cơ chế thị trường, đó là khả năng lao động, chất lượng lao động và sức mạnh về tư liệu sản xuất, tài sản, tiền vốn và một số yếu tố khác.
Ai có được nhiều những yếu tố trên sẽ có ưu thế chiếm giữ phần thu nhập xã hội nhiều 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự phân phối mang tính kinh tế này tất yếu dẫn đến sự phân cực giàu nghèo. Rõ ràng trong xã hội hiện đại thu nhập của mỗi tổ chức, cá nhân, gia đình là không thể đồng đều trong khi đó những nhu cầu sống tối thiểu thì lại gần như nhau. Những người không có khả năng lao động, không có thu nhập và thu nhập quá thấp không đảm bảo cho mức sống sinh hoạt tối thiểu cần có một lượng thu nhập nhất định để mưu sinh, Nhà nước cần thiết phải bù đắp một phần cho những người này nhằm giúp họ thoát khỏi khó khăn, đảm bảo cho họ có được mức sinh hoạt tối thiểu trong cuộc sống.
Thuế thu nhập chính là một trong những công cụ để Nhà nước thực hiện yêu cầu này. Hơn nữa, việc đánh thuế vào người có nhiều thu nhập cũng là lẽ công bằng, bởi cũng nhờ vào xã hội mà họ có được nguồn thu nhập đó. Thứ hai, sự ra đời của thuế thu nhập còn bắt nguồn từ nhu cầu tài chính của Nhà nước, Nhà nước nào cũng cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của mình. Cùng với xu thế phát triển kinh tế xã hội, khả năng mang lại thu nhập cho mỗi người ngày càng cao, Nhà nước tìm thấy khả năng huy động nguồn tài chính to lớn cho mình thông qua thuế thu nhập.
Thứ ba, thuế thu nhập là công cụ để Nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội. Một trong những lý thuyết căn bản của Keynes là lý thuyết về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập - mức thu nhập càng cao, đến một mức độ nhất định thì tính hữu dụng của nó càng thấp. Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội, cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn để tăng tính hữu dụng của thu nhập toàn xã hội. Trong xã hội hiện đại, Nhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều tiết các mặt hoạt động kinh tế, xã hội của cộng đồng.
Thu nhập của mỗi cá nhân, tổ chức hay một quốc gia là chỉ tiêu quan trọng quyết định vấn đề tích lũy, đầu tư, tiết kiệm, tiêu dùng đến vấn đề phân bổ nguồn lực trong xã hội. Thông qua việc đánh thuế vào thu nhập với những cách thức khác nhau, Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết của mình. Các loại thuế thu nhập Do thuế thu nhập có đối tượng đánh thuế là thu nhập phát sinh nên một trong 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những nội dung quan trọng của chính sách thuế thu nhập là phải xác định được thu nhập chịu thuế. Trong nền kinh tế thị trường các khoản thu nhập của tổ chức, cá nhân rất đa dạng phong phú, việc đưa ra định nghĩa tổng quát về thuế thu nhập là rất khó.
Thông thường các nhà nghiên cứu kinh tế, pháp lý thường đưa ra phương pháp liệt kê các khoản thu nhập của tổ chức, cá nhân. Theo đối tượng chủ thể được hưởng thu nhập, thuế thu nhập cấu thành hệ thống chính sách thuế thu nhập là: - Thuế thu nhập doanh nghiệp; - Thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vì các lý do đặc thù, đôi khi người tra tách riêng một số thuế thu nhập theo loại thu nhập để tiện điều chỉnh như: - Thuế thu nhập đánh vào hoa lợi sử dụng đất; - Thuế thừa kế tài sản; - Thuế đánh vào quà biếu, quà tặng; - Thuế đánh vào thu nhập trên vốn; - Thuế đánh vào cổ phiếu, trái phiếu. Tùy theo các hình thức, quy mô của từng thu nhập phát sinh và chính sách của nhà nước với mỗi loại thu nhập, mà hệ thống chính sách thuế thu nhập của từng nước có thể được thiết kế khác nhau.
Tuy nhiên, dù có thiết kế như thế nào thì hệ thống chính sách thuế thu nhập cũng phải dựa theo một trong hai mô hình sau: * Mô hình hệ thống chính sách thuế cổ điển. Trong mô hình thuế thu nhập cổ điển, các loại thuế thu nhập không liên thông với nhau. Ở đây, dòng thu nhập bị cắt quãng để đánh thuế một cách độc lập, vì vậy không thể có điều kiện để kiểm tra sự đầy đủ của các dòng thu nhập nhằm hạn chế hiện tượng che giấu thu nhập trong mối quan hệ giữa hoạt động tìm kiếm thu nhập và hoạt động tiêu dùng thu nhập. * Mô hình hệ thống chính sách thuế thu nhập liên kết khấu trừ.
Là mô hình hệ thống chính sách thuế thu nhập có liên hệ chặt chẽ giữa các sắc thuế trong hệ thống. Trong hệ thống này, dòng thu nhập được phát sinh trong 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mỗi chu kỳ đều được theo dõi chặt chẽ.