Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về thị trường bán buôn điện cạnh tranh. Chương 2: Thực trạng pháp luật về thị trường bán buôn điện cạnh tranh và mô hình thí điểm tại Tổng công ty Điện lực Miền Trung. 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THỊ TRƢỜNG BÁN BUÔN ĐIỆN CẠNH TRANH 1. Khái quát về thị trƣờng bán buôn điện cạnh tranh 1.
Khái niệm thị trường bán buôn điện cạnh tranh Ngành Điện là một ngành sản xuất hàng hóa đặc biệt có quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, không có sự ách tắc trong khâu lưu thông, phân phối. Quá trình sản xuất và phân phối điện năng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng đều thông qua một hệ thống điện (HTĐ) đồng nhất bao gồm lưới điện truyền tải và phân phối. Quá trình sản xuất, kinh doanh (SXKD) điện năng bao gồm ba khâu cơ bản là: Sản xuất - Truyền tải - Phân phối. Các hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thường được đặt dưới sự giám sát hoặc chỉ huy, điều khiển trực tiếp của đơn vị vận hành HTĐ nhằm đảm bảo hoạt động điện lực diễn ra ổn định và an toàn.
Nhìn từ góc độ cạnh tranh của thị trường ở các khâu trong quá trình SXKD điện năng, có thể phân chia thị trường điện (TTĐ) thành 4 mô hình kinh tế cơ bản hay 4 cấp độ phát triển của TTĐ (chi tiết theo Phụ lục 1). Tự do hóa TTĐ đã trở thành xu hướng toàn cầu từ năm 1990, quá trình phát triển TTĐ tại Việt Nam cũng đã được hoạch định trong Luật Điện lực, trong đó, khoản 1 Điều 18 Luật Điện lực số 28/2004/QH11 đã nêu rõ thị trường điện lực được hình thành và phát triển theo các cấp độ: Thị trường phát điện cạnh tranh; Thị trường bán buôn điện cạnh tranh; Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh. Thị trường bán buôn điện cạnh tranh là cấp độ phát triển thứ 2 trong quá trình xây dựng TTĐ cạnh tranh ở nước ta, là mô hình tồn tại sự cạnh tranh trong khâu phát điện và bán buôn điện, trong khâu phân phối bán lẻ, các công ty phân phối vẫn độc quyền bán điện cho các khách hàng theo địa bàn quản lý.1: Các mô hình thị trƣờng điện [22] Để hiểu một cách đầy đủ khái niệm về TT ĐCT, chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm liên quan, cụ thể: Một là, khái niệm thị trường Thị trường là một phạm trù được nghiên cứu nhiều trong các học thuyết kinh tế, cùng với sự tiến bộ của đời sống kinh tế - xã hội, quan niệm về thị trường cũng được phát triển theo. Theo nhà kinh tế học Samuelson: “Thị trường là một quá trình trong đó người mua và người bán cùng một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá”.
Theo Davidbegg: “Thị trường là sự biểu hiện thu gọn của quá trình thông qua các quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào, các quyết định của công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và cho ai, đều dung hoà bằng sự điều chỉnh giá cả”. Theo nghĩa hiện đại: “Thị trường là quá trình mà người mua, người bán tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và lượng hàng hoá mua bán hay nói cách khác thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hoá, lưu thông tiền tệ, các giao dịch mua bán và các dịch vụ” [21, tr. Hai là, khái niệm thị trường cạnh tranh Khi thị trường có nhiều người mua, người bán thì trong quá trình tác động qua lại để xác định giá cả và lượng hàng hóa mua bán, người mua và người bán 7 không chỉ tương tác với nhau mà còn tương tác với nhiều người mua và người bán khác cùng tham gia thị trường, quá trình tương tác, tác động đang xen này làm xuất hiện sự cạnh tranh trong thị trường. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất”.
Trên thực tế, cạnh tranh trên thị trường diễn ra rất đa dạng và phức tạp chẳng hạn như cạnh tranh giữa những người mua, giữa những người bán, giữa những người bán với người mua, giữa các doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp nước ngoài.[10] Như vậy, thị trường cạnh tranh có thể được hiểu là quá trình nhiều người mua và nhiều người bán tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và lượng hàng hoá mua bán, trong quá trình này, các chủ thể (có lợi ích đối lập) cạnh tranh với nhau để dành các điều kiện có lợi nhất cho mình, các điều kiện này có thể là các lợi ích trước mắt như giá cả, số lượng hàng hóa cũng có thể là các mục tiêu dài hạn như thị phần, vị thế, hình ảnh doanh nghiệp… Khái niệm thị trường bán buôn điện cạnh tranh Từ các khái niệm công cụ ở trên, thị trường bán buôn điện cạnh tranh có thể được hiểu là quá trình những người mua buôn điện và những người bán buôn điện tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và sản lượng điện năng tiêu thụ, trong quá trình tương tác này, những chủ thể có lợi ích đối lập cạnh tranh với nhau để dành các điều kiện có lợi cho mình. Tuy nhiên, do hàng hóa được giao dịch trên thị trường là điện năng nên các đặc thù của HTĐ và điện năng sẽ ảnh hưởng đến các chủ thể tham gia thị trường và quá trình tương tác giữa các chủ thể. Hệ thống điện của một quốc gia gồm các thành phần: các nhà máy/ trạm phát điện, các đường dây truyền tải điện kết nối các nhà máy/trạm điện này với các trung tâm tiêu thụ và các đường dây phân phối kết nối đến từng hộ tiêu thụ cuối cùng [29]. Nói một cách đơn giản hơn, HTĐ chính là hệ thống kết nối giữa các nguồn phát và phụ tải tiêu thụ.
Do đó, dưới góc độ kỹ thuật điện, TT ĐCT là “nơi” diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán theo cơ chế thị trường giữa các phần tử chính 8 trong HTĐ quốc gia, gồm các nhà máy điện (NMĐ) có công suất phát điện lớn và các hệ thống phụ tải chính. Các phần tử còn lại của HTĐ dù không tham gia giao dịch mua bán trên thị trường nhưng vẫn phát điện lên hệ thống hoặc tiêu thụ gián tiếp thông qua các phụ tải chính - thông qua các đơn vị mua buôn. Giá mua, bán điện trên TT ĐCT được hình thành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước (chẳng hạn, Nhà nước quy định khung giá cho TT ĐCT.), còn giá mua, bán điện của các chủ thể còn lại thì thực hiện theo các quy định của cơ quan nhà nước (CQNN) có thẩm quyền.2: Cấu trúc của hệ thống điện [30] Như vậy, trong TT ĐCT, người bán buôn điện chính là các đơn vị sở hữu hoặc đại diện các NMĐ tham gia TT ĐCT, là các nguồn phát điện có công suất lớn, người mua buôn điện chính là các đơn vị mua buôn và các khách hàng lớn muốn mua điện trực tiếp từ các đơn vị phát điện (ĐVPĐ), chính là các hệ thống phụ tải lớn. Ngoài ra, cùng với quá trình hội nhập, HTĐ của các quốc gia được kết nối với nhau nên trong thị trường còn có sự tham gia của các đơn vị nhập khẩu điện đóng vai trò là đơn vị bán điện và đơn vị xuất khẩu điện đóng vai trò là đơn vị mua điện.
Nếu như hàng hóa thông thường có thể được chuyển trực tiếp từ người bán đến người mua hoặc được chuyển gián tiếp thông qua đơn vị vận chuyển thì trên TT ĐCT, điện năng được chuyển từ các đơn vị bán điện đến các đơn vị mua buôn điện qua lưới điện truyền tải quốc gia hoặc qua lưới điện phân phối (trong một số ít trường hợp NMĐ đấu nối trực tiếp vào lưới phân phối). Như vậy, các đơn vị 9 truyền tải điện và đơn vị phân phối là các đơn vị cung cấp dịch vụ lưới điện có nhiệm vụ vận chuyển điện năng từ người bán đến người mua trên thị trường và tổn thất điện năng trên lưới truyền tải, lưới phân phối trong quá trình này chính là sự hao hụt tất yếu trong quá trình vận chuyển. Quá trình sản xuất điện năng diễn ra đồng thời, liên tục với quá trình tiêu thụ điện năng nên quá trình giao dịch mua bán, lưu thông hàng hóa, lưu thông tiền tệ… trên TT ĐCT cũng diễn ra liên tục, đan xen nhau và khá phức tạp, do đó các hoạt động trên thị trường cần được vận hành bởi đơn vị vận hành TTĐ để đảm bảo hoạt động trên thị trường diễn ra liên tục và hiệu quả. Song song đó, do sản lượng phát của người bán và sản lượng tiêu thụ của người mua trên thị trường luôn có sự chênh lệch do tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải, phân phối đồng thời quá trình SXKD điện năng diễn ra liên tục nên việc theo dõi sản lượng phát và sản lượng tiêu thụ cần được thực hiện thường xuyên, liên tục cũng như cần có sự đối chiếu, xác nhận về sản lượng điện năng giao dịch trên thị trường giữa người mua, người bán và đơn vị vận hành TTĐ.
Từ đó, xuất hiện các đơn vị thu thập và quản lý số liệu đo đếm điện năng là “đơn vị cung cấp, lắp đặt, quản lý vận hành hệ thống thu thập, xử lý, lưu trữ số liệu đo đếm điện năng và mạng đường truyền thông tin phục vụ thị trường điện” [1, tr. Vì tất cả các đơn vị mua, bán điện trên TT ĐCT được kết nối với nhau trong hệ thống điện đồng nhất do đó hoạt động phát điện hay tiêu thụ của một thành viên sẽ có ảnh hưởng đến chất lượng điện năng chung của cả HTĐ. Vì vậy, để đảm bảo an ninh cung cấp điện và vận hành tin cậy của HTĐ, quá trình sản xuất, vận hành của các thành viên trên thị trường được đặt dưới giám sát, điều khiển của đơn vị vận hành HTĐ. ên cạnh đó, trên thị trường cũng cần có sự tham của các đơn vị cung cấp dịch vụ phụ trợ, các đơn vị này cũng thực hiện đấu nối vào lưới điện của thị trường và dưới sự điều động của đơn vị vận hành HTĐ sẽ thực hiện cung cấp các dịch vụ phụ trợ nhằm đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật trong quá trình vận hành HTĐ.