Chương I - Lý luận chung về thị trường phát điện cạnh tranh Chương II - Hiện trạng hoạt động phát điện tại Việt Nam Chương III - Lựa chọn mô hình thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam 5 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƢỜNG PHÁT ĐIỆN CẠNH TRANH 1. Lý luận chung về thị trường 1. Quan niệm về thị trường và các yếu tố cấu thành thị trường 1.
Quan niệm về thị trường Thị trƣờng là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn bó chặt chẽ với khái niệm phân công lao động xã hội. Ở đâu và khi nào có phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hóa thì ở đó và khi ấy có thị trƣờng. Cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, khái niệm thị trƣờng có nhiều biến đổi và ngày càng đƣợc bổ sung hoàn thiện hơn. Khái niệm thị trƣờng ban đầu đƣợc hiểu một cách đơn giản là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể kinh tế.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lƣu thông hàng hoá, ngày càng có nhiều các cách hiểu khác nhau về thị trƣờng. Trong hệ thống lý thuyết kinh tế có nhiều khái niệm về thị trƣờng, tuy nhiên những quan niệm này hầu hết đều đứng trên quan điểm vĩ mô nhƣ thị trƣờng là tổng hòa các mối quan hệ mua bán hoặc thị trƣờng là thị trƣờng tổng hợp các số cộng của ngƣời mua về một sản phẩm…Lại có quan điểm cho rằng: “Thị trƣờng là lĩnh vực trao đổi mà ngƣời bán và ngƣời mua cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hoá và dịch vụ”. Philip Kotler, một nhà kinh tế học nổi tiếng ngƣời Mỹ lại cho rằng: "Thị trƣờng bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn 6 nhu cầu hay mong muốn đó”. Với cách định nghĩa nhƣ vậy ngƣời bán đƣợc phân chia thành ngành sản xuất còn ngƣời mua thì họp thành thị trƣờng.
Dƣới góc độ thị trƣờng của doanh nghiệp thƣơng mại lại có cách hiểu nhƣ sau: “Thị trƣờng có thể đƣợc hiểu là các nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu tƣơng tự (giống nhau) và những ngƣời bán đƣa ra các sản phẩm khác nhau với các cách thức khác nhau để thỏa mãn nhu cầu đó”. Nhƣ vậy thị trƣờng của doanh nghiệp thƣơng mại trƣớc hết đó là những khách hàng có nhu cầu cụ thể về hàng hóa, dịch vụ trong một thời gian nhất định và chƣa đƣợc thỏa mãn, bao gồm những khách hàng hiện tại và khách hàng có tiềm năng tiêu thụ, đây là yếu tố tạo nên cầu về sản phẩm hàng hóa. Thành phần thứ hai tham gia vào thị trƣờng doanh nghiệp tạo nên yếu tố cung về sản phẩm hàng hoá đó là những ngƣời bán, bao gồm các cá nhân và doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Thành phần thứ ba và là thành phần quyết định tham gia vào thị trƣờng của doanh nghiệp thƣơng mại là các hàng hóa, sản phẩm cụ thể, đối tƣợng để mua bán trao đổi.
Thành phần này góp phần hình thành nên yếu tố giá cả thị trƣờng. * Vai trò của thị trường: Trong nền kinh tế thị trƣờng, thị trƣờng có vị trí trung tâm. Thị trƣờng vừa là mục tiêu của ngƣời sản xuất kinh doanh vừa là môi trƣờng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Thị trƣờng cũng là nơi diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa.
Vì thế nó tác động đến nhiều mặt của sản xuất, tiêu dùng xã hội: - Bảo đảm điều kiện cho sản xuất phát triển liên tục với quy mô ngày càng mở rộng và bảo đảm hàng hóa cho ngƣời tiêu dùng phù hợp với sở thích, thị hiếu của họ và sự tự do lựa chọn một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi. 7 - Nó thúc đẩy nhu cầu, gợi mở nhu cầu, đƣa đến cho ngƣời tiêu dùng những sản phẩm mới. Nó kích thích sản xuất ra những sản phẩm chất lƣợng cao. - Dự trữ các hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội, giảm bớt dự trữ ở các khâu tiêu dùng, bảo đảm việc điều hòa cung cầu.
- Phát triển các hoạt động sản xuất phục vụ tiêu dùng với chất lƣợng ngày càng cao. - Thị trƣờng hàng hóa ổn định có tác dụng to lớn để ổn định sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân. Các yếu tố cấu thành thị trường Có bốn yếu tố cấu thành nên thị trƣờng của doanh nghiệp thƣơng mại là cung, cầu, giá cả và cạnh tranh. - Cầu : Cầu là lƣợng một mặt hàng mà ngƣời tiêu dùng mong muốn mua và có khả năng mua với một giá cả nhất định tại một thời điểm nhất định.
Nó bị giới hạn bởi khả năng thanh toán của ngƣời tiêu dùng. Những nhân tố ảnh hƣởng tới cầu là thu nhập trung bình của ngƣời tiêu dùng, giá cả hàng hóa, thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, giá cả của một số hàng hóa có liên quan, quy mô thị trƣờng trong đó thu nhập của ngƣời tiêu dùng là quan trọng nhất. - Cung: Cung là lƣợng một mặt hàng mà ngƣời sản xuất kinh doanh muốn bán và có khả năng cung ứng để bán theo một mức giá nhất định ở một thời điểm nhất định. Cung hàng hóa chịu ảnh hƣởng của các nhân tố nhƣ giá cả hàng hóa, chi phí sản xuất, sự phát triển của khoa học công nghệ mới, tài nguyên 8 thiên nhiên, cầu hàng hóa, các yếu tố chính trị xã hội.
Trong đó chi phí sản xuất là quan trọng nhất. - Giá cả: Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Sự tƣơng tác giữa ngƣời mua với ngƣời mua, ngƣời bán với ngƣời bán và giữa ngƣời bán với ngƣời mua hình thành nên giá cả thị trƣờng. Giá cả thị trƣờng chịu ảnh hƣởng của các yếu tố nhƣ giá trị thị trƣờng, sức mua của tiền, cung và cầu, cạnh tranh trên thị trƣờng.
- Cạnh tranh: Cạnh tranh là sự đấu tranh giữa các chủ thể hành vi kinh tế nhằm giành giật các nguồn lực hay thị trƣờng tiêu thụ nhằm mang lại lợi ích tối đa cho mình. Cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trƣờng. Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của cơ chế thị trƣờng, là hiện tƣợng tự nhiên tất yếu của kinh tế thị trƣờng. Cạnh tranh diễn ra trong nhiều lĩnh vực nhƣ cạnh tranh về chất lƣợng sản phẩm, về giá cả hàng hóa, về phƣơng thức thanh toán, về chất lƣợng phục vụ…hoặc cạnh tranh trong nội bộ ngành hoặc cạnh tranh ngoài ngành.
Trong cơ chế thị trƣờng cạnh tranh diễn ra liên tục và không có đích cuối cùng. Vai trò của cạnh tranh đƣợc thể hiện thông qua các chức năng của nó: - Cạnh tranh sẽ bình quân hóa các giá trị cá biệt để hình thành nên giá cả thị trƣờng. - Cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt sản xuất xã hội và do đó làm cho sự phân bổ các nguồn lực kinh tế của xã hội một cách tối ƣu. - Cạnh tranh kích thích ngƣời sản xuất cải tiến bộ kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất.
9 - Cạnh tranh góp phần tạo nên cơ sở cho sự phân phối thu nhập lần đầu. Ngƣời sản xuất nào có năng suất, chất lƣợng, hiệu quả cao sẽ có thu nhập cao và ngƣợc lại. Các quy luật và chức năng của thị trường 1. Các quy luật của thị trường - Quy luật giá trị: Quy luật giá trị là một trong ba quy luật của nền kinh tế hàng hóa.
Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và lƣu thông hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết trung bình để sản xuất và lƣu thông hàng hóa và trao đổi ngang giá. Ngƣời sản xuất hoặc kinh doanh nào có chi phí lao động xã hội cho một đơn vị sản phẩm thấp hơn trung bình thì ngƣời đó có lợi, ngƣợc lại ngƣời nào có chi phí cao thì không có lợi nhuận hoặc không đƣợc thị trƣờng chấp nhận. Đây là yêu cầu khắt khe buộc ngƣời sản xuất hoặc kinh doanh phải tiết kiệm chi phí, luôn luôn cải tiến kỹ thuật, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lƣợng dịch vụ để bán đƣợc nhiều hàng hóa. - Quy luật cung cầu: Trong thị trƣờng quan hệ cung cầu là quan hệ bản chất, thƣờng xuyên lặp đi lặp lại, tác động qua lại với nhau.
Khi cung và cầu gặp nhau sẽ hình thành nên giá cả thị trƣờng, đó là giá cả bình quân. Tuy nhiên mức giá này không đứng yên mà luôn dao động dƣới sự tác động của lực cung và lực cầu. - Quy luật cạnh tranh: Trong nền kinh tế có nhiều thành phần kinh tế, có nhiều ngƣời mua, ngƣời bán với lợi ích kinh tế khác nhau thì việc cạnh tranh giữa ngƣời mua với ngƣời mua, ngƣời bán với ngƣời bán và giữa ngƣời bán với ngƣời mua tạo nên sự vận động của thị trƣờng và trật tự của thị trƣờng. Các chức năng của thị trường - Chức năng thừa nhận: Hàng hóa của doanh nghiệp đƣợc bán trên thị trƣờng, nếu hàng hóa bán đƣợc có nghĩa là đã đƣợc thị trƣờng thừa nhận.
Nếu hàng hóa không có ai mua có nghĩa là không đƣợc thị trƣờng thừa nhận. Muốn đƣợc thị trƣờng chấp nhận doanh nghiệp phải thỏa mãn đƣợc nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, muốn vậy doanh nghiệp phải nghiên cứu nhu cầu của khách hàng. - Chức năng thực hiện: Chức năng này đòi hỏi hàng hóa và dịch vụ phải đƣợc thực hiện giá trị trao đổi bằng tiền hoặc bằng hàng hay các chứng từ có giá trị khác. Giữa chức năng thừa nhận và chức năng giá trị có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Chức năng thừa nhận phải thông qua chức năng thực hiện để thể hiện trong đời sống thực tế, chức năng thực hiện chỉ diễn ra trên cơ sở chức năng thừa nhận đã trở thành hiện thực. - Chức năng điều tiết và kích thích: Thông qua hành vi mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ trên thị trƣờng, thị trƣờng sẽ điều tiết, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển hoặc ngƣợc lại. Đối với doanh nghiệp, hàng hóa bán hết nhanh sẽ kích thích doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động tạo nguồn hàng, thu mua hàng hóa để cung ứng ngày càng nhiều hơn cho thị trƣờng. Ngƣợc lại nếu hàng hóa không bán đƣợc, doanh nghiệp sẽ phải hạn chế mua, nâng cao chất lƣợng phục vụ khách hàng, tìm khách hàng mới, thị trƣờng mới hoặc chuyển hƣớng kinh doanh.
Chức năng điều tiết kích thích luôn điều tiết sự gia nhập ngành hoặc rút lui khỏi ngành của một số doanh nghiệp.