CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN Trong chương này, trình bày tổng quan về lịch sử hình thành thị trường điện các nước, kinh nghiệm phát triển thị trường các nước sẽ là bài học cho thị trường điện Việt Nam. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường điện Việt Nam cũng được trình bày. Mô hình thị trường cũng được phân tích đúc kết.1 Tổng quan Thị trường là một cơ chế mà trong đó người mua và người bán có thể xác định giá cả và trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Thị trường tồn tại với hầu hết mọi thứ hàng hóa, dưới nhiều hình thức khác nhau và mang đặc thù chung đó là thị trường là nơi người mua và người bán đến với nhau để xác định giá cả, sản lượng, và hình thức trao đổi.
Từ đặc điểm chung này, P. Samuelson - đã đưa ra định nghĩa: “thị trường là một cơ chế trong đó người mua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và sản lượng của hàng hóa hay dịch vụ” [1] Dựa trên định nghĩa trên, nhiều nhà khoa học và các nhà kinh tế tiến bộ cũng xác định điện năng là một loại hàng hóa, hoàn toàn có thể xác lập các giao dịch thông qua mua bán hàng hóa, trong đó đơn vị sản xuất bán điện và người mua gặp nhau để xác định giá mua bán, và thị trường điện hình thành. Thị trường điện có nhiều cấp độ khác nhau, từ thị bảo hộ, độc quyền phân phối, độc quyền mua, độc quyền bán, thị trường cạnh tranh …. Mặc dù cấp độ nào, thì về cơ bản vẫn phải tuân theo quy luật của nền kinh tế: đường cầu và cung cắt nhau ở điểm cân bằng thị trường mà tại đó xác định được giá cả và số lượng.
Giá cả có xu hướng thay đổi cho đến khi thị trường đạt trạng thái cân bằng khi lượng cung cân bằng với lượng cầu. Quá trình này diễn ra liên tục, xác định các điểm cân bằng mới có ảnh hưởng đến sản lượng điện năng, chi phí sử dụng để sản xuất điện cũng như nhu cầu tiêu dùng như: theo giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc theo mùa. Sản lượng điện và giá cả có thể biến động tăng, giảm đồng thời đường cầu, cung điện năng luôn biến động tăng, giảm từ đó xác định điểm cân bằng mới trong các thời kỳ 3 Hình 1.1 Đặc tính cân bằng cung - cầu. có ảnh hưởng đến sản lượng điện năng, chi phí sử dụng để sản xuất điện cũng như nhu cầu tiêu dùng theo các chu kỳ thời gian hoặc theo mùa.
Đối với các thị trường hàng hóa thông thường, cạnh tranh giúp điều chỉnh trật tự thị trường, kích thích tính tích cực, tính đa dạng và nâng cao chất lượng hàng hoá cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Căn cứ vào tính chất cạnh tranh cạnh tranh, thị trường thường được phân thành các loại sau: Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường. Các sản phẩm bán ra không có nhiều khác biệt về quy cách, phẩm chất mẫu mã. Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau.
Ở đó, các doanh nghiệp phân phối hoặc sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường. Đây là loại hình cạnh tranh phổ biến hiện nay và tùy từng biểu hiện của hình thức cạnh tranh này mà cách thức tác động đến giá cả sẽ là khác nhau. Độc quyền: Trên thị trường chỉ có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu. Đối với TTĐ, các hình thức cạnh tranh có những điểm khác biệt và được Hunt và 4 Shuttleworth bàn luận, đề xuất thành bốn cấp độ hay mô hình cạnh tranh của TTĐ tương ứng với cấp độ độc quyền có điều tiết cho tới cạnh tranh hoàn toàn.
Ở cấp độ cao nhất, các khâu sản xuất điện và bán lẻ điện sẽ hình thành cơ chế cạnh tranh hoàn hảo trong khi khâu truyền tải sẽ do Nhà nước độc quyền. [2] Hình thức giao dịch buôn bán phổ biến nhất trong TTĐ là thực hiện thông qua đơn vị trung gian mua bán điện. Đơn vị trung gian này có thông tin được cung cấp về hành vi tiêu dùng sản phẩm điện năng dưới dạng các đồ thị phụ tải của khách hàng mua điện. Đơn vị này đồng thời sẽ nhận các bản chào giá hoặc hồ sơ thầu của các nhà cung ứng điện năng và thực hiện giao dịch đấu thầu.
Khi hoạt động đấu thầu hoàn tất, đơn vị trung gian sẽ lên kế hoạch cho các nhà cung ứng kết nối và huy động sản lượng điện năng với các thông số kỹ thuật yêu cầu hoặc theo tiêu chuẩn. Trong một số trường hợp, bên mua điện và bên bán điện có thể thực hiện các giao dịch trực tiếp với nhau không qua đơn vị trung gian. Khi đó, giá giao dịch sẽ bao gồm một khoản phí thanh toán cho đơn vị quản lý vận hành hạ tầng truyền tải, phân phối điện. Bên cạnh đó, đối với bên bán điện, họ sẽ có cần có thông tin dự báo nhu cầu phụ tải để giảm thiểu rủi ro và thành công trên thị trường cạnh tranh.
Các nhà máy bán điện không thể khẳng định chắc chắn việc bán điện trong tương lai theo giá quy định trong hợp đồng dài hạn sẽ có lãi bởi lẽ cung, cầu và giá điện trong quá khứ có thể sẽ khác với sự trông đợi của họ tại thời điểm ký hợp đồng. Do đó các nhà máy sản xuất điện cần phải áp dụng các biện pháp để nâng cao độ chính xác dự báo nhu cầu phụ tải. Các tiên đoán mà nhà máy dựa vào để ra quyết định, phải được điều chỉnh và cập nhật liên tục, hoặc sử dụng các công cụ toán học, phần mềm chuyên sâu để phân tích và đưa ra kết quả dự báo chuẩn xác. Các chủ thể tham gia TTĐ bao gồm các bên như sau: Khách hàng mua điện: Hiện được phân nhóm thành các hộ tiêu thụ thuộc các khu vực như công nghiệp - xây dựng, nông nghiệp, thương mại - dịch vụ, tiêu dùng, dân cư và một số hộ khác.
5 Các đơn vị phát điện: Chịu trách nhiệm ở khâu sản xuất điện thông qua các quá trình công nghệ chuyển đổi các dạng năng lượng sơ cấp thành điện năng. Điện năng của các đơn vị này sẽ được chào bán trên thị trường thông qua các cơ chế chào giá khác nhau tùy theo quy định và cấp độ thị trường. Các đơn vị bán lẻ: Chịu trách nhiệm ở khâu giao dịch bán hàng với khách hàng cuối cùng. Các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền tải, phân phối điện: Đây là các đơn vị sở hữu lưới điện ở cấp truyền tải hoặc phân phối.
Chức năng chính của các đơn vị này là đầu tư, quản lý và vận hành lưới điện trên cơ sở thu phí dịch vụ truyền tải, phân phối điện. Các chi phí này được tính vào giá thành tiêu thụ điện của khách hàng cuối cùng; Đơn vị điều hành hệ thống điện và đơn vị điều hành thị trường: có chức năng quan trọng, đảm bảo việc duy trì sự cân bằng cung - cầu trong vận hành hệ thống điện và vận hành TTĐ căn cứ theo hành vi chào giá của các đơn vị sản xuất điện, năng lực truyền tải của lưới điện và nhu cầu khách hàng.2 Lịch sử hình thành và phát triển thị trường điện Cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, một số quốc gia tiên phong tại châu Âu như Anh quốc và tại Hoa Kỳ đã có những bước thử nghiệm tự do hóa ngành điện và xây dựng TTĐ cạnh tranh, có sự đúc kết và rút kinh nghiệm từ quá trình tự do hóa các lĩnh vực đã từng là độc quyền trước đó như viễn thông, hạ tầng giao thông, khí đốt. Cho đến giai đoạn cuối 1990, nhiều TTĐ đã được hình thành và xây dựng thành công, chuyển đổi ngành công nghiệp điện năng lên một giai đoạn phát triển mới hiệu quả hơn, chất lượng tốt hơn và nâng cao độ hài lòng của khách hàng. Các mốc thời gian chính trong quá trình hình thành và phát triển của các TTĐ trên thế giới: Năm 1978: Hoa Kỳ phê duyệt Luật về Các chính sách Điều tiết Công ty điện lực.
Luật này cho phép các nhà sản xuất thu hồi được các khoản đầu tư phát điện qua giá bán điện hợp lý; Năm 1982: Chi-lê lần đầu tiên vận hành TTĐ giao ngay. Cơ chế định giá theo điểm 6 (nodal pricing) lần đầu được giới thiệu bởi Fred Schweppe (1982) và sau đó được áp dụng tại nhiều TTĐ. Năm 1990: Tại nước Anh đã hình thành TTĐ chào giá tự do, sau đó đã trở thành hình mẫu cho nhiều quốc gia khác xây dựng TTĐ. Năm 1994: TTĐ Nordic (Bắc Âu) bắt đầu vận hành và là thị trường giao ngay quốc tế đầu tiên.
Năm 1996: TTĐ giao ngay xuất hiện tại Australia và New Zealand, California. Đây là thị trường định giá theo khu vực, là sự cải tiến của cơ chế định giá theo điểm. Năm 2001: Tại nước Anh, tiến hành cải cách TTĐ, cho phép các bên giao dịch song phương theo hợp đồng tự do.3 Kinh nghiệm của các quốc gia phát triển thị trường điện 1.1 Các nước châu Mỹ Thị trường điện tại Brazil được thực hiện theo các cấp độ: [3] Mua buôn: Các công ty và doanh nghiệp có nhu cầu mua lớn sẽ mua bán trên thị trường này, mua bán dựa trên chi phí bao gồm cả chi phí cơ hội, nguyên tắc mua bán theo giá từ thấp đến cao. Mua bán buôn theo hợp đồng song phương.
Mua phí trong tương lai theo nhu cầu sử dụng điện của khách hàng. Đối với cơ quan vận hành lưới điện, phí được tính theo từng năm, các công ty bán lẻ cạnh tranh với nhau và bị giới hạn thị phần (không quá 25%) và về địa lý (phạm vi cung cấp). Tại Brazil, một lực lượng lao động chính trong khối kinh doanh điện đều do một công ty (ngoài các công ty điện lực) thực hiện các công việc ghi chỉ số công tơ, thu tiền điện (có công ty thuê cả trung tâm dịch vụ khách hàng), lực lượng thuê lao động còn lớn hơn lực lượng biên chế chính thức của công ty điện lực. Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động và quan hệ khách hàng cũng như định hướng phát triển thị trường điện bán lẻ sau này, cần được nghiên cứu và từng bước thực hiện ở 7 Việt Nam.