Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hoàn thiện pháp luật về các hình thức khuyến mại tại Việt Nam" được tác giả Nguyễn Diệp Anh (sinh viên khóa 45, Khoa Luật, Trường Đại học Luật Hà Nội) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Như Chính vào năm 2023. Đề tài thuộc chuyên ngành Luật, tập trung vào lĩnh vực pháp luật thương mại.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng hoạt động khuyến mại đóng vai trò là một công cụ xúc tiến thương mại quan trọng của thương nhân nhằm kích thích sức mua, đưa hàng hóa và dịch vụ tiếp cận nhanh chóng với người tiêu dùng, đồng thời mở rộng thị phần. Về phương diện pháp lý, các quy định điều chỉnh hoạt động này đã được ghi nhận trong Luật Thương mại 2005, Nghị định 37/2006/NĐ-CP, Nghị định 68/2009/NĐ-CP và Nghị định 81/2018/NĐ-CP, hình thành hành lang pháp lý tương đối vững chắc. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai đã làm phát sinh nhiều điểm bất cập: một số quy định chưa thực sự phù hợp với thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, chưa tạo thuận lợi cho các quy trình thủ tục hành chính giữa thương nhân và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là phân tích các hình thức khuyến mại ở Việt Nam hiện nay, đánh giá thực tiễn thi hành, bình luận thuận lợi và hạn chế của khung pháp lý hiện hành, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục tiêu này, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật Việt Nam hiện hành về khuyến mại;
  2. Phân tích và đánh giá những quy định pháp luật về khuyến mại trong thực tiễn thực hiện của các doanh nghiệp nổi bật, cung ứng dịch vụ (bao gồm các tổ chức cung ứng phần mềm quản lý, hỗ trợ liên kết và kết nối thông tin, các tổ chức trung gian thanh toán, các sàn giao dịch thương mại điện tử);
  3. Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về các hình thức khuyến mại cũng như nâng cao hiệu lực thi hành trong thực tiễn.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống lý luận pháp lý, các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh các hình thức khuyến mại và các công trình khoa học liên quan (luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, giáo trình, bài báo và tạp chí pháp luật). Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại các thành phố lớn cũng như trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về thời gian được xác định từ tháng 09 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận cơ sở lý luận từ góc độ ngôn ngữ học ("khuyến" là khuyến khích, "mãi" là mua, "mại" là bán; thuật ngữ tiếng Anh: Sales Promotion hoặc Promotion) và pháp lý thực định. Căn cứ Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005, khuyến mại được xác định là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Hoạt động này được đặt trong mối quan hệ ràng buộc bởi 5 nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 3 Nghị định 81/2018/NĐ-CP:

  1. Nguyên tắc hợp pháp, trung thực, công khai, minh bạch và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và các tổ chức, cá nhân khác;
  2. Nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải và giải quyết khiếu nại phát sinh;
  3. Nguyên tắc bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại;
  4. Nguyên tắc không so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác;
  5. Nguyên tắc không sử dụng kết quả xổ số để xác định trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại quy định tại Khoản 5, Khoản 6 và Khoản 9 Điều 92 Luật Thương mại 2005.

Khung pháp lý được tác giả khảo cứu bao gồm: Luật Thương mại 2005; Nghị định 81/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại; Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia 2019; Nghị định 59/2006/NĐ-CP và Nghị định 43/2009/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh; các văn bản xử lý vi phạm hành chính gồm Nghị định 06/2008/NĐ-CP, Nghị định 112/2010/NĐ-CP, Nghị định 185/2013/NĐ-CP, Nghị định 98/2020/NĐ-CP và Nghị định 17/2022/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm: phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích văn bản pháp luật, phân tích quy phạm pháp luật, diễn dịch, logic, so sánh, thống kê, đánh giá và quy nạp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các công trình nghiên cứu đi trước (luận án của Nguyễn Thị Dung năm 2006; luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Thùy Linh năm 2019, Doãn Thị Thục Anh năm 2019, Phùng Mạnh Cường năm 2019), báo cáo thị trường từ Vietnam-Briefing (2022), số liệu điều tra xã hội học của Công ty TNHH W&S (Varesearch) tiến hành từ ngày 01/09/2013 đến ngày 10/09/2013 với quy mô N = 1.064 mẫu khảo sát, và báo cáo kết quả Tháng khuyến mại Hà Nội 2023 từ Bộ Công Thương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về khuyến mại, các hình thức khuyến mại và pháp luật về các hình thức khuyến mại

Tác giả hệ thống hóa các đặc trưng cơ bản của khuyến mại: chủ thể thực hiện bắt buộc là thương nhân (tự thực hiện hoặc thuê dịch vụ khuyến mại); phương thức xúc tiến là dành cho khách hàng lợi ích vật chất hoặc phi vật chất; mục đích là xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ. Về vai trò, khuyến mại kích cầu tiêu dùng, mở rộng thị phần cho thương nhân và tạo cơ hội để người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa với chi phí ưu đãi.

Chương 1 phân loại nội dung pháp luật điều chỉnh các hình thức khuyến mại thành 5 nhóm quy định cốt lõi:

  1. Nhóm quy định về chủ thể thực hiện: Bao gồm thương nhân trực tiếp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại (Khoản 1 Điều 2 Nghị định 81/2018/NĐ-CP);
  2. Nhóm quy định về các hình thức khuyến mại cụ thể và định mức: Quy định chi tiết các phương thức xúc tiến thương mại theo Điều 92 Luật Thương mại 2005;
  3. Nhóm quy định về các hình thức khuyến mại bị cấm: Ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và xâm hại lợi ích công cộng theo Điều 100 Luật Thương mại 2005;
  4. Nhóm quy định về thủ tục thực hiện: Gồm thủ tục thông báo và thủ tục đăng ký hoạt động khuyến mại với cơ quan quản lý nhà nước;
  5. Nhóm quy định về xử lý vi phạm: Cơ chế chế tài hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về khuyến mại.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi hành tại Việt Nam

Tác giả phân tích cụ thể 9 hình thức khuyến mại luật định và định mức áp dụng theo Nghị định 81/2018/NĐ-CP:

  • Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền (Điều 8).
  • Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền (Điều 9): Tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại không vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại (Khoản 2 Điều 6).
  • Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán trước đó (giảm giá) (Điều 10): Mức giảm giá tối đa không vượt quá 50% (Điều 7), trừ các chương trình tập trung (được giảm đến 100%). Thời gian giảm giá cho một nhãn hiệu không vượt quá 120 ngày/năm. Không áp dụng mức trần giảm giá cho hàng thực phẩm tươi sống, hàng hóa bình ổn giá hoặc khi thương nhân giải thể, phá sản, chuyển đổi ngành nghề.
  • Bán hàng kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ (Điều 11): Giá trị tối đa của phiếu không quá 50% giá đơn vị hàng hóa được khuyến mại.
  • Bán hàng kèm phiếu dự thi (Điều 12): Thực hiện công khai theo thể lệ đã thông báo cho Sở Công Thương.
  • Bán hàng kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi (Điều 13): Bắt buộc xác định trúng thưởng công khai. Trường hợp không có người trúng thưởng, thương nhân phải nộp 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước (Điều 21).
  • Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên (Điều 14).
  • Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí.
  • Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước chấp thuận (bao gồm khuyến mại trực tuyến trên sàn thương mại điện tử, ứng dụng công nghệ, thanh toán trung gian).

Đối với các hành vi bị cấm (Điều 100 Luật Thương mại 2005), tác giả nhấn mạnh: cấm khuyến mại hàng hóa cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh; cấm sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi; cấm sử dụng thuốc lá, rượu bia có độ cồn từ 15 độ trở lên (quy định mới sửa đổi bởi Điểm a Khoản 3 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia 2019); cấm khuyến mại không trung thực, gây hiểu lầm hoặc nâng giá rồi giảm giá (như vụ việc siêu thị Pico Cầu Giấy năm 2012 nâng giá tivi LED LG 47inch LS4600 lên 14,9 triệu đồng rồi tặng 900.000 đồng); cấm khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở cơ quan nhà nước; cấm hứa thưởng nhưng không thực hiện; và cấm khuyến mại vượt hạn mức luật định.

Về thủ tục hành chính, tác giả phân định rõ hai quy trình:

  • Thủ tục thông báo (Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP): Áp dụng cho hình thức hàng mẫu, tặng quà, giảm giá, phiếu mua hàng. Thương nhân gửi hồ sơ đến Sở Công Thương tối thiểu trước 03 ngày làm việc qua 4 phương thức (bưu điện, trực tiếp, thư điện tử có chữ ký số/bản scan, hoặc cổng dịch vụ công trực tuyến).
  • Thủ tục đăng ký (Điều 19 Nghị định 81/2018/NĐ-CP): Áp dụng cho hình thức khuyến mại mang tính may rủi và các hình thức khác. Cơ quan tiếp nhận là Sở Công Thương (nếu thực hiện trên địa bàn 1 tỉnh/thành phố) hoặc Bộ Công Thương (nếu thực hiện trên địa bàn từ 2 tỉnh/thành phố trở lên). Khi kết thúc, thương nhân phải báo cáo kết quả và công khai danh sách trúng thưởng.

Về thực tiễn thi hành, tác giả tổng hợp số liệu khảo sát định lượng của Công ty W&S (Varesearch) năm 2013 và số liệu báo cáo của Bộ Công Thương về Tháng khuyến mại Hà Nội năm 2023:

Chỉ số khảo sát / Hoạt động thực tế Dữ liệu định lượng trong khóa luận
Tỷ lệ người tiêu dùng quan tâm đến khuyến mại (W&S, N = 1.064) 82,5% quan tâm (rất quan tâm + quan tâm); 6,3% không quan tâm
Tỷ lệ người tiêu dùng chủ động tìm kiếm thông tin khuyến mại 99,7% có tìm kiếm; Miền Trung có 32,4% rất quan tâm
Các kênh tìm kiếm thông tin khuyến mại phổ biến nhất Báo mạng (71,5%), Website bán hàng trực tuyến (68,2%), Tivi (64,7%)
Ý định mua sắm khi biết thông tin khuyến mại 62,2% mua thường xuyên trở lên; 1,7% hiếm khi hoặc không bao giờ
Đánh giá mức độ hấp dẫn theo hình thức khuyến mại Giảm giá (86%), Quà tặng kèm (83,4%), Tăng số lượng giữ giá (80,6%), Tích điểm đổi quà (54,6%)
Nhận thức về giá trị và chất lượng hàng khuyến mại 73,8% xem là cơ hội tốt nhất để mua hàng; 28,8% cho rằng chất lượng không đảm bảo
Mức giảm giá trung bình tại vùng ngoại thành, nông thôn Dao động từ 5% đến 25% đối với hàng tiêu dùng thiết yếu
Kết quả Tháng khuyến mại Hà Nội 2023 (27/10 - 30/11/2023) Chuỗi sự kiện có 50 Điểm vàng tham gia ("Ngày vàng giá shock" 11-12/11/2023); lượng khách tăng trên 20% so với tháng trước (ngày vàng tăng 45% - 60%); doanh số bán hàng tăng 20% - 35% so với ngày thường

Chương 3: Yêu cầu và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại tại Việt Nam

Theo cấu trúc được xác lập trong khóa luận, chương này bao gồm 3 nội dung trọng tâm:

  • 3.1 Yêu cầu về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại;
  • 3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại;
  • 3.3 Một số kiến nghị nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về các hình thức khuyến mại.

Các kiến nghị hướng tới việc tháo gỡ khó khăn về thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, chuẩn hóa quy định điều chỉnh các dịch vụ khuyến mại trung gian công nghệ và kiểm soát chặt chẽ an toàn thông tin khách hàng trong môi trường số.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn với các cứ liệu thực chứng:

  • Khái quát và phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thương mại hiện hành, làm rõ thẩm quyền quản lý nhà nước, định mức trần (50% và 100%) và thời hạn áp dụng hình thức giảm giá (không quá 120 ngày/năm đối với một nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ).
  • Minh chứng thực tiễn hành vi tiêu dùng bằng số liệu điều tra xã hội học N = 1.064 của W&S, chỉ ra rằng hình thức giảm giá trực tiếp (86%) và quà tặng kèm (83,4%) có sức hút cao nhất đối với thị trường Việt Nam.
  • Ghi nhận hiệu quả kinh tế - thương mại qua dẫn chứng thực tế từ các doanh nghiệp (Acecook, Vinamilk, MediaMart, Điện máy Xanh, Habeco, Bamboo Airways, ZaloPay) và báo cáo của Bộ Công Thương về Tháng khuyến mại Hà Nội 2023 với doanh số tăng trưởng từ 20% đến 35%.

Về mặt đóng góp so với các công trình đi trước, tác giả chỉ rõ: Các công trình của Nguyễn Thị Dung (2006), Đinh Thị Thùy Linh (2019), Doãn Thị Thục Anh (2019) hay Phùng Mạnh Cường (2019) chủ yếu khai thác pháp luật khuyến mại truyền thống gắn với một địa bàn hành chính cụ thể (như Hà Nội hoặc Lào Cai). Khóa luận của Nguyễn Diệp Anh đã kế thừa các lý luận đó, đồng thời mở rộng phân tích thực trạng pháp luật trong thực tiễn thực hiện của các chủ thể cung ứng dịch vụ mới: đơn vị cung cấp phần mềm quản lý, nền tảng kết nối thông tin, tổ chức trung gian thanh toán và các sàn giao dịch thương mại điện tử trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu do tác giả tự xác định:

  • Dữ liệu khảo sát xã hội học về mức độ quan tâm của người tiêu dùng sử dụng số liệu từ năm 2013 (nghiên cứu của W&S), chưa phản ánh toàn diện những thay đổi sâu sắc trong hành vi tiêu dùng số giai đoạn 2020 - 2023.
  • Phạm vi nghiên cứu thực tiễn tập trung chủ yếu vào các đô thị lớn (đặc biệt là địa bàn thành phố Hà Nội) trong khoảng thời gian hẹp (từ tháng 09/2023 đến tháng 12/2023).
  • Hướng mở nghiên cứu tiếp theo cần tập trung nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân, trách nhiệm pháp lý của các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới và các trung gian thanh toán khi cung ứng dịch vụ khuyến mại trực tuyến.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại: Là tài liệu nghiên cứu chuyên đề về xúc tiến thương mại, cung cấp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và án lệ/vụ việc xử lý vi phạm trên thực tế.
  • Bộ phận pháp chế doanh nghiệp và đơn vị kinh doanh dịch vụ xúc tiến thương mại: Tham khảo trực tiếp quy trình thực hiện thủ tục thông báo (Điều 17) và đăng ký (Điều 19 Nghị định 81/2018/NĐ-CP), cũng như các định mức khống chế giá trị khuyến mại nhằm phòng ngừa rủi ro xử phạt vi phạm hành chính.
  • Phần đáng tham khảo nhất của văn bản là Mục 2.1 (Chương 2), nơi tác giả đối chiếu chi tiết từng hình thức khuyến mại tại Điều 92 Luật Thương mại 2005 với hướng dẫn thi hành tại Nghị định 81/2018/NĐ-CP và phân tích các trường hợp hành vi bị cấm.

Câu hỏi thường gặp

1. Hạn mức giá trị vật chất dùng để khuyến mại và mức giảm giá tối đa được pháp luật quy định như thế nào?
Theo Điều 6 và Điều 7 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa/dịch vụ và mức giảm giá tối đa không được vượt quá 50% giá trước thời gian khuyến mại. Tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại trong một chương trình cũng không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại. Trong trường hợp tổ chức chương trình khuyến mại tập trung (do cơ quan nhà nước chủ trì hoặc các đợt lễ, tết), hạn mức giá trị vật chất và mức giảm giá tối đa được áp dụng lên đến 100%.

2. Trường hợp chương trình khuyến mại mang tính may rủi không có người trúng thưởng thì giải quyết ra sao?
Căn cứ Khoản 4 Điều 19 và Điều 21 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, trong trường hợp chương trình khuyến mại mang tính may rủi đã hết thời hạn trao thưởng mà không có người trúng thưởng, thương nhân thực hiện chương trình có nghĩa vụ phải trích nộp 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước.

3. Khảo sát của W&S trong khóa luận ghi nhận hình thức khuyến mại nào hấp dẫn nhất và kênh thông tin nào được tiếp cận nhiều nhất?
Theo khảo sát trên 1.064 mẫu của W&S (năm 2013), hình thức giảm giá hàng bán được đánh giá là hấp dẫn nhất (86% người đánh giá hấp dẫn và rất hấp dẫn), tiếp theo là quà tặng kèm thêm (83,4%). Ba kênh tiếp cận thông tin khuyến mại được người tiêu dùng chú ý nhiều nhất là: báo mạng (71,5%), website bán hàng trực tuyến (68,2%) và tivi (64,7%).

4. Quy định cấm khuyến mại đối với mặt hàng rượu, bia có điểm mới nào đáng lưu ý?
Trước đây, pháp luật thương mại quy định cấm sử dụng "rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên". Tuy nhiên, theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia 2019, quy định này đã được mở rộng thành cấm khuyến mại hoặc sử dụng "rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên" dưới mọi hình thức, đồng thời cấm tuyệt đối việc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi.

5. Thủ tục thông báo và thủ tục đăng ký hoạt động khuyến mại khác nhau như thế nào về thẩm quyền và thời hạn?
Thủ tục thông báo (Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP) gửi đến Sở Công Thương trước tối thiểu 03 ngày làm việc trước khi thực hiện và không cần chờ văn bản chấp thuận. Thủ tục đăng ký (Điều 19 Nghị định 81/2018/NĐ-CP) áp dụng đối với hình thức mang tính may rủi và hình thức khác: thương nhân nộp hồ sơ tại Sở Công Thương nếu thực hiện trên địa bàn 1 tỉnh/thành phố, hoặc nộp tại Bộ Công Thương nếu thực hiện trên địa bàn từ 2 tỉnh/thành phố trở lên, và chỉ được tiến hành sau khi có văn bản xác nhận của cơ quan quản lý.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Diệp Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định pháp luật thực định về các hình thức khuyến mại tại Việt Nam căn cứ theo Luật Thương mại 2005 và Nghị định 81/2018/NĐ-CP. Thông qua sự kết hợp giữa phân tích chuẩn mực pháp lý với các số liệu điều tra xã hội học và số liệu báo cáo thị trường thực tế, công trình đã làm rõ bức tranh thực thi pháp luật khuyến mại trên thị trường bán lẻ và dịch vụ số. Khóa luận đóng góp góc nhìn học thuật hữu ích trong việc nhận diện bất cập pháp lý và định hướng hoàn thiện khung thể chế điều chỉnh hoạt động xúc tiến thương mại thời kỳ công nghệ 4.0.