Chương I: Những vấn đề chung về doanh nghiệp công ở các nước đang phát triển. Chương II: Pháp luật về doanh nghiệp công ở một số nước đang phát triển. Chương III: Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Luận văn được hoàn thành với sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Như Phát; cùng sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè, gia đình và đồng nghiệp trong quá trình thu thập tài liệu, dịch thuật tài liệu, cũng như động viên tinh thần, góp ý kiến cho nội dung và hình thức của bản luận văn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và quý báu đó. Kính mong tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm để chúng tôi có thể sửa chữa, bổ sung những nội dung còn khiếm khuyết và hoàn thiện hơn nữa nội dung của luận văn. 8 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1.1 Các quan niệm khác nhau về doanh nghiệp công.1 Về tên gọi "Doanh nghiệp công". Khi nghiên cứu về các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, nhiều học giả ở các nước cũng như ở Việt Nam thường nêu ra các quan niệm rất khác nhau về bản thân tên gọi cũng như về khái niệm, đặc điểm cơ bản của loại hình doanh nghiệp này.
Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ những định hướng phát triển kinh tế, phát triển doanh nghiệp của mỗi nước và những thay đổi trong chính sách đối với doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Tên gọi của loại hình doanh nghiệp này đã có rất nhiều thay đổi. Ở các nước đang phát triển thuộc khối các nước XHCN (trước đây), người ta hay dùng thuật ngữ “xí nghiệp quốc doanh”, "xí nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu toàn dân", “doanh nghiệp quốc doanh”, "doanh nghiệp nhà nước". Trong khi đó, ở các nước đang phát triển theo chế độ tư bản chủ nghĩa, lại thường sử dụng thuật ngữ “doanh nghiệp công”, "doanh nghiệp công cộng" (public enterprises) hoặc là “doanh nghiệp thuộc sở hữu công" (public-owned enterprises), “doanh nghiệp Chính phủ”.
Tìm hiểu về lịch sử tồn tại, phát triển của doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước ở một số nước đang phát triển cho thấy rõ điều đó. Xin lấy ví dụ từ trường hợp Trung Quốc và Việt Nam để minh hoạ. Ở Trung Quốc, cùng với những thay đổi về chính sách và các quy định của pháp luật thì tên gọi của các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước đã thay đổi qua ba giai đoạn chủ yếu sau đây: - Từ năm 1950 đến cuối những năm 70 của thế kỷ XX, đây là giai đoạn hình thành khu vực kinh tế Nhà nước ở Trung Quốc, căn cứ vào cấu trúc về 9 z quyền sở hữu, có 2 tên gọi: xí nghiệp nhà nước (state enterprises) và xí nghiệp công tư hợp doanh (state-private joint enterprises ). - Trong những năm 80 của Thế kỷ XX - đây là giai đoạn Trung Quốc bắt đầu thực hiện chính sách cải cách, mở cửa; với sự ra đời của Luật xí nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, loại hình doanh nghiệp này có tên gọi là xí nghiệp công nghiệp quốc doanh.
- Thời kỳ từ năm 1993 đến nay, tên gọi thường được sử dụng để chỉ loại hình doanh nghiệp này, đó là: Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước (State Owned Enterprises - SOEs ). Sự thay đổi về tên gọi của các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước cũng diễn ra tương tự ở Việt Nam. - Từ năm 1948, với Sắc lệnh số 104-SL ngày 1/1/1948 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các doanh nghiệp này được gọi là doanh nghiệp quốc gia. - Thời kỳ từ 1954 đến trước năm 1995, có rất nhiều tên gọi như: xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp quốc doanh.
- Từ sau Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với việc khẳng định tài sản do các xí nghiệp quốc doanh quản lý thuộc sở hữu Nhà nước thì các xí nghiệp quốc doanh cũng thống nhất được gọi là các “doanh nghiệp Nhà nước”. Năm 1995, Luật doanh nghiệp nhà nước ra đời, lần đầu tiên tên gọi doanh nghiệp nhà nước được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp lý. Còn tên gọi doanh nghiệp công được sử dụng khá nhiều trong các tài liệu của một số học giả khi nghiên cứu về các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước hoặc có phần vốn của Nhà nước mà tỷ lệ vốn đủ để Nhà nước có thể chi phối, kiểm soát doanh nghiệp, hay nói cách khác Nhà nước với tư cách chủ sở hữu có khả năng (theo luật định) để có thể áp đặt các mục tiêu và phương thức quản lý đối với doanh nghiệp. 10 z {Ví dụ: Trong tác phẩm " Cân bằng lại giữa khu vực công cộng và khu vực tư nhân" của O.Bouin và Ch.Michalet; “Bản chất và quá trình cải cách doanh nghiệp công ở Trung Quốc – chủ sở hữu vắng mặt” của Châu Quý Thiện và Lý Ánh Hồng; hay cuốn: "Chuyên đề về doanh nghiệp Nhà nước" của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, xuất bản năm 1994.
Theo chúng tôi, tên gọi doanh nghiệp công thể hiện một cách khá bao quát về bản chất và đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này, dựa trên những cơ sở sau: Thứ nhất, dựa vào bản chất của quyền sở hữu vốn và tài sản của doanh nghiệp. Quyền sở hữu đó dường như cũng không có tính ổn định về tên gọi với rất nhiều tên gọi đã được sử dụng như: Sở hữu công, sở hữu công cộng, sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, với sự xác nhận trong các văn bản pháp luật về tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ trách nhiệm hữu hạn của doanh nghiệp công, và do vậy, là một tổ chức kinh tế, doanh nghiệp công phải đủ độc lập với Nhà nước về tư cách pháp lý. Xét về phương diện quản lý doanh nghiệp, ở nhiều nước có quan niệm: "Quốc hữu hoá, không phải là Nhà nước hoá" [34,65].
Việc sử dụng tên gọi doanh nghiệp công là muốn nhấn mạnh về quyền sở hữu đối với doanh nghiệp nhưng đồng thời thể hiện tính độc lập trong hoạt động của doanh nghiệp, tránh sự can thiệp quá mức của Nhà nước. Thứ ba, dựa vào nguồn gốc hình thành doanh nghiệp công ở các nước đang phát triển. Doanh nghiệp công ra đời chủ yếu là kết quả của quá trình quốc hữu hoá các công ty của các nhà tư bản, sau khi các nước đang phát triển giành được độc lập. Nên về mặt kinh tế, nếu nói nhà nước là nhà đầu tư, là người trực tiếp bỏ vốn ra để tham gia kinh doanh trên thương trường thông qua việc thành lập doanh nghiệp và điều hành hoạt động của nó, thì sẽ không hoàn toàn đúng trong nhiều trường hợp.
Vì nguồn lực kinh tế này là thành quả của một cuộc cách mạng xã hội mà không phải là nguồn lực có được thông qua con đường tích luỹ tư bản, tích luỹ vốn. 11 z Thứ tư, ở nhiều nước thường phân loại các doanh nghiệp không chỉ dựa trên dấu hiệu về mặt sở hữu mà còn dựa vào tính chất, đặc điểm của lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh. Đối với những lĩnh vực đặc biệt quan trọng như an ninh, quốc phòng, dầu khí, tài chính, ngân hàng hoặc trong lĩnh vực cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công ích thì có thể vẫn có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế song nhất thiết Nhà nước phải kiểm soát, chi phối một cách trực tiếp và chặt chẽ, ban hành các đạo luật riêng để điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp này cũng được gọi là doanh nghiệp công.
Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến các doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước hoặc phần vốn của Nhà nước đủ để chi phối, kiểm soát doanh nghiệp. {Các nước đang phát triển là tên gọi chung để chỉ những nước trước đây là thuộc địa hoặc phụ thuộc của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, họ đã giành được độc lập về chính trị ở những mức độ khác nhau, hiện đang trên con đường phát triển, đấu tranh để giành độc lập thực sự về chính trị, kinh tế. Xem Giáo trình lịch sử kinh tế các nước và Việt Nam, Trường Đại học Tài chính kế toán Hà nội, xuất bản năm 2001, trang 155}.2 Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp công.1 Khái niệm doanh nghiệp công: Như đã đề cập ở phần trên, do có nhiều tên gọi, nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp công nên đưa ra một định nghĩa thật sát hợp để trả lời câu hỏi doanh nghiệp công là gì, đó là một việc không hề đơn giản. Thông thường người ta xây dựng khái niệm doanh nghiệp công trong đó thể hiện 3 nội dung chính: (i) Xác định về quyền sở hữu: thuộc sở hữu công (hay còn gọi là sở hữu toàn dân hay sở hữu Nhà nước), hay tỷ lệ vốn thuộc sở hữu công đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp; (ii) Xác định tư cách pháp lý, chế độ trách nhiệm về vốn và tài sản: Có tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ trách nhiệm hữu hạn; 12 z (iii) Xác định nguyên tắc chung về quản lý, hoạt động: Tự chủ trong quản lý, hạch toán sản xuất kinh doanh độc lập (nêu mục tiêu, phương thức quản lý: hạch toán độc lập ).
Trên cơ sở đó, nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm về doanh nghiệp công khác nhau theo những cách tiếp cận khác nhau. Xin nêu một số khái niệm thường gặp trong các tài liệu: * Doanh nghiệp công (Doanh nghiệp Nhà nước) là một đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân và có tài sản riêng mà quyền sở hữu thuộc về Nhà nước hoàn toàn hoặc Nhà nước nắm đa số vốn, thông qua cơ chế trực tiếp (nắm giữ vốn) hoặc thông qua việc góp vốn trực tiếp hay qua các doanh nghiệp công khác nắm giữ đa số vốn [34,69]. * Doanh nghiệp công là thực thể kinh tế thuộc sở hữu hay thuộc quyền kiểm soát của Chính phủ mà phần lớn thu nhập của nó được tạo ra thông qua việc bán các hàng hoá và dịch vụ. Ngoài ra, có một quan niệm rất phổ biến đó là: Doanh nghiệp công (doanh nghiệp Nhà nước) là những doanh nghiệp do Nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và Nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của doanh nghiệp [21,58].