CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HOÀN THIEN PHAP LUẬT TRONG NEN KINH TE THI TRUONG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA 1.1 Vai trò của Pháp luật trong nền kinh tế 1.1 Những đặc điểm cơ bản của pháp luật Pháp luật là hiện tượng thuộc kiến trúc tượng tầng, nó bị quy định bởi hạ tầng kinh tế cụ thể là bị quy định bởi các quan hệ kinh tế trong xã hội. Do đó, khi kinh tế thay đổi thì pháp luật phải thay đổi theo. Đồng thời, pháp luật còn có mối quan hệ tương tác với các hiện tượng khác thuộc kiến trúc thượng tầng như: chính trị, đạo đức, tôn giáo. Trong các mối quan hệ đó thì mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật là mối quan hệ hết sức quan trọng và đặc biệt điều đó được thể hiện pháp luật và Nha nước có cùng nguồn gốc phát sinh và phát triển.
Nhà nước ban hành pháp luật. Song pháp luật không phải là hiện tượng phái sinh từ Nhà nước, pháp luật đảm bảo cho hoạt động Nhà nước mang tính hợp pháp được mọi người chấp nhận. Pháp luật là công cụ để tổ chức và quản lý đời sống xã hội, trước tiên pháp luật luôn nhằm bảo vệ quyên lợi cho giai cấp thống trị nhưng đồng thời pháp luật cũng bảo đảm một trật tự chung cho toàn bộ xã hội. Pháp luật có bản chất giai cấp và bản chất xã hội.
Bản chất này xuất phát từ cơ sở kinh tế - xã hội cũng như từ nhu cầu tố chức và quản lý nền sản xuất xã hội. TS Lê Minh Tam, pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp tuỳ theo góc độ tiếp cận và giải quyết van dé cụ thể của hệ thống pháp luật. Theo nghĩa hẹp “pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự, do các cơ quan nhà nước có thắm quyển ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu khách quan, điển hình và phổ biến dé diéu chinh các quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội”.!”*!!Ì Như vậy theo nghĩa hẹp, pháp luật chỉ bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật thực định. Theo nghĩa rộng, pháp luật ngoài hệ thống pháp luật thực định còn có -6- những vấn dé mang tính khái quát và trừu tượng hơn, thé hiện ban chất pháp luật có tính chất định hướng.
Đó là các nguyên tắc, định hướng và mục đích pháp luật. Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, pháp luật được xem xét chủ yếu theo nghĩa hẹp. Pháp luật có một số đặc điểm cơ bản sau: 1.1 Pháp luật là tổng hop các quy phạm pho biến có tinh bắt buộc chung đòi hỏi mọi người phải tuân thu. Quy phạm pháp luật là đơn vị nhỏ nhất, hay còn được gọi là “tế bào” của pháp luật.
Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh một quan hệ xã hội. Quy phạm pháp luật dự liệu những điều kiện, hoàn cảnh mà khi những điều kiện đó được hội đủ, hoàn cảnh đó xảy ra, chủ thể phải thực hiện theo quy định của quy phạm pháp luật dự liệu cho trường hợp đó. Đó là quan hệ mang tinh phỏ biến, điển hình và những quan hệ mà giai cấp cằm quyén nhận thấy cần phải điều chỉnh dé bảo vệ quyền lợi, và trấn áp các bộ phận chống đối. Quy phạm pháp luật không chỉ mô hình hoá các quan hệ xã hội hiện có, tạo cho các quan hệ xã hội một hình thức pháp lý mà ngay bán thân quy phạm pháp luật còn là cơ sở phát sinh những quan hệ xã hội mới.
Pháp luật đã phản ánh được các quy luật vận động của các quan hệ xã hội. Về mặt cấu trúc, quy phạm pháp luật có 3 phần: Giả định, quy định và chế tài. Quy phạm pháp luật được biểu hiện dưới hình thức các điều luật trong các văn bản quy phạm pháp luật. Một điều luật có thể chứa một quy phạm pháp luật, có thé chứa nhiều quy phạm pháp luật nhưng một quy phạm pháp luật chỉ điều chỉnh một quan hệ xã hội.
Không phải bao giờ tất cả các quy phạm pháp luật cũng thé hiện đầy đủ các yếu tố cau thành bao gồm: giả định, quy định, chế tài có thể nó chỉ gồm hai bộ phận, tính không đây đủ các yếu tố câu thành quy phạm pháp luật là do tính chất của các quan hệ xã hội mà quy phạm pháp luật đó điều chỉnh. Tính chất bắt buộc chung đã làm cho pháp luật trong mối quan hệ với ey a các chủ thé của các quan hệ pháp luật trở nên các quy tắc khách quan, độc lập với ý chí và lợi ích chủ quan của từng chủ thể khi tham gia quan hệ ấy. Xét về mặt bản chất, pháp luật là chuẩn mực chung bắt buộc và do đó mọi người đều bình đăng khi tham gia vào quan hệ pháp luật, pháp luật là đại lượng bình dang của những chủ thé không bình đẳng. Những người tham gia vào quan hệ kinh tế có thể rất khác nhau về địa vị xã hội, khả năng về vốn.
song khi tham gia vào các quan hệ kinh tế trong một lĩnh vực nhất định được pháp luật quy định thì họ đều là chủ thé bình dang vé mặt pháp lý, được pháp luật bảo vệ, có quyên liên kết tập hợp, thu hút những chủ thể khác trong những phương diện khi tham gia vào các quan hệ kinh tế được xác lập.2 Pháp luật được đảm bảo bằng Nhà nước Pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh về vật chất, thiết chế tổ chức, sức mạnh về tư tưởng của Nhà nước; đặc biệt thông qua chế độ trách nhiệm pháp lý và việc áp dụng chế độ trách hiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật. Trước hết, sức mạnh điều chỉnh của pháp luật được đảm bảo bởi sức mạnh về kinh tế mà bản thân Nhà nước với tư cách là chủ thể kinh tế. Nhà nước nam trong tay một tiềm lực kinh tế to lớn và vì vậy, pháp luật của Nha nước khi ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế luôn được đảm bảo bởi toàn bộ sức mạnh kinh tế của Nhà nước. Nhờ sức mạnh kinh tế của Nhà nước, thông qua pháp luật, nền kinh tế có sự trợ giúp từ phía Nhà nước, đảm bảo cho các quy tắc của Nhà nước được thực hiện trên thực tế.
Sức mạnh kinh tế của Nhà nước làm cho sức mạnh của pháp luật có nội dung hiện thực, khi Nha nước ban hành một đạo luật kinh tế thì Nhà nước đã có đủ điều kiện kinh tế dam bảo cho đạo luật đó được thực thi. Thông qua các hình thức, các điều kiện kinh tế khác mà pháp luật của Nhà nước đi vào đời sông, điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội, pháp luật không phải là quy tac chung mà kèm theo nó được đảm bảo băng điều kiện vật chất của Nhà nước. Hơn nữa, pháp luật được đảm bao bởi cả bộ máy hành pháp của Nhà _Ñ- nước. Bộ máy hành pháp của Nhà nước được tô chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương.
có chức năng chuyên thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống băng chính sức mạnh cưỡng chế của bộ máy hành pháp. Thông qua bộ máy Nhà nước pháp luật được triển khai từ chính phủ, các bộ ngành, cho đến tất cả các cơ quan Nhà nước khác nhau. Ngoài ra, pháp luật còn được đảm bảo bằng sức mạnh tư tưởng của Nhà nước. Pháp luật khác với các quy phạm xã hội khác còn bởi nó được tuyên truyền phố biến rộng rãi, đưa đến từng chủ thể trong các quan hệ pháp luật tham gia kinh doanh, bởi hoạt động của bộ máy tuyên truyền giáo dục pháp luật và bản thân pháp luật có sức mạnh tư tưởng rất lớn.
Với những giá trị vốn có của mình, pháp luật tác động vào tâm lý con người, thuyết phục con người về mức độ lợi ích, về sự hợp lý, về sự an toàn, về ý chí của họ được thừa nhận và bảo vệ. Pháp luật sinh ra để bảo vệ lợi ích của họ, để hướng dẫn họ, tạo cho họ môi trường pháp lý an toàn chứ không chỉ cung cấp cho họ một niềm tin mà còn cả hệ thong hướng dẫn, phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật, pháp luật áp đặt vào các chủ thể pháp luật, giáo dục, vận động hướng dẫn hàng ngày, nhờ đó pháp luật luôn luôn hiện hữu trong suy nghĩ, trong việc làm, trong hướng dẫn hành vi của mọi người trong xã hội. Điều đặc biệt có ý nghĩa đối với sự nhận thức vai trò của pháp luật trong đời sống kinh tế là khả năng cưỡng ché pháp luật. Pháp luật buộc người ta phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy tc XỬ SỰ, trong trường hợp có vi phạm các quy định của pháp luật thì phải gánh chịu các hậu quả bất lợi về mặt pháp lý.
Pháp luật dự liệu những biện pháp để xử lý các hành vi vị phạm mà người ta gọi là trách nhiệm pháp ly. Pháp luật dự liệu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Việc quy định trách nhiệm pháp lý ấy thông qua các chế tài pháp luật đảm bảo cho việc xử lý các quan hệ kinh tế, các xung đột kinh tế. Đương nhiên khả năng cưỡng chế của pháp luật xuất phát không chỉ là sự phản ứng _9- thuần tuý của Nhà nước đối với hành vi vi phạm kinh tế, mà còn xuất phát từ sự cần thiết khôi phục công bằng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc có lỗi thì phái chịu phat, làm thiệt hại thì phải bồi thường.
Việc quy định ay là khả thi, có ca một cơ chế áp dụng các biện pháp chế tài buộc các chủ thé kinh tế phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; trong trường hợp vi phạm pháp luật đều phải chịu những hậu qủa pháp lý thông qua những thủ tục pháp lý đặc thù.3 Pháp luật có tính lôgic hình thức chặt chẽ Pháp luật là hệ thống quy phạm có hình thức chặt chẽ lô gíc, nhờ vậy pháp luật trở nên rõ ràng, chính xác và mạch lạc. Tính xác định, hình thức chặt chẽ của pháp luật tạo ra hệ thống các quy định vừa thống nhất, vừa đồng bộ. Nhờ vậy, pháp luật tồn tại với tính cách là một hệ thống thể hiện lôgíc các mối quan hệ bên trong (các quan hệ giữa các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật, các ngành luật) và các môi quan hệ bên ngoài (các quan hệ giữa luật cơ bản (Hiến pháp), các bộ luật, đạo luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật).