Chương 1. Những vấn đề cơ bản về pháp luật công ty chứng khoán và các cam kết quốc tế có liên quan. Thực trạng pháp luật Việt Nam về công ty chứng khoán theo các cam kết quốc tế đã tham gia, ký kết. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty chứng khoán đảm bảo phù hợp các cam kết quốc tế.
7 z Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ CÓ LIẾN QUAN 1. Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán 1. Khái niệm, đặc điểm công ty chứng khoán 1. Khái niệm công ty chứng khoán Theo pháp luật Nhật Bản, thuật ngữ CTCK được hiểu là “bất kỳ một CTCP liên doanh nào đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp giấy phép tiến hành việc kinh doanh chứng khoán”[22, Điều 2.
Giấy phép nêu trên được phân thành các loại dựa trên những hoạt động kinh doanh cổ phiếu quy định cụ thể tại Luật chứng khoán mà công ty thực hiện. Trong khi, tại Bungary, pháp luật về chứng khoán quy định “các tổ chức trung gian đầu tư chứng khoán là các pháp nhân đã có giấy phép hoạt động kinh doanh theo các hình thức hoạt động và giao dịch chứng khoán trong khuôn khổ các điều kiện và quy định của Luật này, cũng như các ngân hàng có giấy phép hoạt động trong lĩnh vực này theo các điều kiện và quy định của Luật Ngân hàng”[20, Điều 54. Tuy nhiên, khái niệm kinh doanh chứng khoán hay kinh doanh cổ phiếu đều được Luật chứng khoán các nước quy định theo hướng liệt kê, bao gồm mua, bán chứng khoán; hành động như trung gian, đại lý hoặc đại diện liên quan đến việc mua, bán chứng khoán; bảo lãnh phát hành chứng khoán… Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán Thái Lan cũng không đưa ra khái niệm về CTCK mà quy định hoạt động kinh doanh chứng khoán chỉ được tiến hành bằng việc thành lập công ty TNHH, công ty TNHH đại chúng hoặc bởi các tổ chức tài chính được thành lập theo các luật khác và sau khi đã nhận được giấy phép họat động của Bộ trưởng Bộ Tài chính theo đề nghị của Ủy ban chứng khoán. Tương tự, Luật thị trường vốn Indonesia xác định chỉ công ty được Cơ quan giám sát thị trường vốn cấp phép được hoạt động như một CTCK.
Theo đó, CTCK phải đáp ứng các yêu cầu cấp giấy phép nhất định như chuyên môn, vốn đầy đủ. CTCK được cấp phép được hoạt động như một nhà bảo lãnh phát hành, nhà môi giới – tự doạnh và/ hoặc nhà quản lý đầu tư và bất kỳ hoạt động kinh doanh khác do Cơ quan 8 z giám sát thị trường vốn Indonesia cho phép. Có thể thấy, điểm chung nhất trong pháp luật các nước đều chỉ quy định kinh doanh chứng khoán là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, mang tính liệt kê các hình thức/ hoạt động cụ thể và khái niệm CTCK được hiểu là pháp nhân thực hiện kinh doanh chứng khoán, thoả mãn những điều kiện mà pháp luật quy định và phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động. Như vậy, để nhận biết và phân biệt CTCK với các chủ thể kinh doanh chứng khoán khác trên thị trường chứng khoán thì dấu hiệu quan trọng nhất chính là các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán mà chủ thể đó thực hiện.
Pháp luật các nước thường chỉ rõ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nào do CTCK thực hiện, nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nào thì CTCK không được thực hiện nhằm tránh thao túng và mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Thậm chí trong các hoạt động kinh doanh chứng khoán thuộc về CTCK, pháp luật một số nước chỉ cho phép một CTCK thực hiện một số hoạt động nhất định mà không được thực hiện toàn bộ các hoạt động kinh doanh chứng khoán thuộc về CTCK. Ví dụ, theo pháp luật chứng khoán ở Mỹ, Nhật, Canada, Hàn Quốc, đã thực hiện hoạt động tự doanh thì không được hoạt động môi giới và ngược lại. Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia châu Âu lục địa cho phép thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán trong CTCK (đối với CTCK đa nghiệp vụ) nhưng phải đảm bảo tách biệt các hoạt động kinh doanh này.
Bên cạnh đó, còn một số quốc gia như Đức, Úc cho phép ngân hàng, công ty bảo hiểm cũng được đồng thời thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Trên cơ sở xem xét, đánh giá quy định về CTCK theo pháp luật về chứng khoán của một số quốc gia, có thể nói, CTCK là một loại hình doanh nghiệp nên có đầy đủ các đặc tính của doanh nghiệp nói chung. Bên cạnh đó, do thực hiện kinh doanh lĩnh vực đặc thù nên CTCK được xác định căn cứ vào các điểm riêng biệt, giúp phân biệt với các doanh nghiệp kinh doanh khác: (i) Về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh: CTCK là chủ thể kinh doanh trên thị trường chứng khoán có hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh chứng 9 z khoán; (ii) Về hình thức tổ chức pháp lý: CTCK thường được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH hoặc CTCP theo quy định pháp luật doanh nghiệp. Việc quy định hình thức pháp lý của CTCK như vậy đáp ứng được đòi hỏi đặc thù của hoạt động kinh doanh chứng khoán là đảm bảo độ tin cậy cao và hạn chế rủi ro đồng thời đáp ứng yêu cầu thị trường chứng khoán là thị trường mang tính quốc tế cao; (iii) Về phương diện quản lý, CTCK đặt dưới sự quản lý nhà nước trực tiếp của cơ quan quản lý chuyên trách và (iv) Pháp luật điều chỉnh CTCK là Luật chứng khoán và các quy định pháp luật có liên quan.
Đặc điểm công ty chứng khoán Nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, CTCK cũng như tất cả các công ty khác đều có một số đặc điểm chung trong quá trình hoạt động kinh doanh.Tuy nhiên, do kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt và quan trọng là chứng khoán và thị trường chứng khoán nên khi nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, các đặc điểm nêu trên luôn thể hiện rõ ràng và ở mức độ cao hơn ở CTCK so với các công ty kinh doanh trong lĩnh vực khác. Theo đó, CTCK có một số đặc điểm như sau: Một là xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động kinh doanh chứng khoán: Trong quá trình hoạt động kinh doanh, CTCK vừa tiến hành hoạt động mua, bán chứng khoán và đầu tư do khách hàng ủy thác, vừa mua, bán chứng khoán cho chính công ty mình. Do vậy, xung đột lợi ích là vấn đề tất yếu sẽ xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty. Các xung đột lợi ích có thể xảy là giữa CTCK với các nhà đầu tư khi công ty thực hiện hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư do khách hàng ủy thác cùng lúc với hoạt động tự doanh của chính công ty; giữa CTCK với công ty phát hành trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo lãnh phát hành chứng khoán; giữa CTCK với các CTCK khác trong quá trình cạnh tranh để tìm kiếm lợi nhuận.
Ngoài ra, còn tồn tại sự xung đột với phía cơ quan quản lý do luôn mong muốn một sự công bằng và an toàn cho các nhà đầu tư còn mục đích cao nhất của các CTCK là lợi nhuận tối đa. Vì vậy, các cơ quan quản lý luôn có xu hướng kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của CTCK, trong khi công ty lại luôn có xu hướng tự do trong kinh doanh. Xung đột lợi 10 z ích giữa CTCK với chính các nhân viên trong công ty và giữa các nhân viên công ty với khách hàng xảy ra không ít. Những nhân viên này thường có điều kiện thuận lợi để kiếm lợi nhuận riêng cho bản thân trong khi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, gây ảnh hưởng đến lợi ích của công ty vá các khách hàng.
Hai là ảnh hưởng của quyền tự do kinh doanh của CTCK tới sự an toàn của thị trường: CTCK cũng như mọi loại hình doanh nghiệp khác, đều có quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật để tìm kiếm lợi nhuận. Kinh doanh chứng khoán là một loại hình kinh doanh hứa hẹn lợi nhuận cao nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho công ty, cho các nhà đầu tư cũng như cho cả nền kinh tế. Vì vậy, quyền tự do trong hoạt động kinh doanh của CTCK có phạm vi đến đâu sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự an toàn của thị trường chứng khoán. Xuất phát từ sự đặc biệt về lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh nên so với các loại hình công ty khác, pháp luật luôn có một cái nhìn khắt khe hơn đối với các CTCK và luôn tìm cách dung hòa giữa tính hấp dẫn về mặt kinh tế và tính an toàn pháp lý để đảm bảo hiệu quả hoạt động của CTCK.
Ba là hoạt động kinh doanh chứng khoán đòi hỏi các chủ thể tham gia phải có tiềm lực về tài chính và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao: Dù kinh doanh trong lĩnh vực nào, muốn có hiệu quả trong kinh doanh và đạt được lợi nhuận tối đa, chủ thể kinh doanh phải có khả năng về tài chính và trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định. Tuy nhiên, đối với một số loại hình kinh doanh đặc biệt như kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, yêu cầu trên được đặt ra ở mức độ cao hơn để nhằm mục đích đảm bảo chỉ có những doanh nghiệp thực sự có năng lực về tài chính và trình độ nghiệp vụ mới được tham gia thị trường. Đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán, nhằm mục đích bảo vệ các nhà đầu tư, kiểm soát các rủi ro hệ thống và đảm bảo một thị trường hiệu quả, có trật tự và công bằng, CTCK muốn được hoạt động kinh doanh phải đáp ứng những điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Đó là các điều kiện về hình thức pháp lý, điều kiện về vốn, điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật và điều kiện về nhân sự.
Bốn là sự ảnh hưởng của cá nhân đối với hoạt động của công ty: Nói chung, 11 z các cá nhân luôn có vai trò mang tính quyết định đối với công ty mà họ tham gia thành lập và làm việc. Kinh doanh trong những lĩnh vực mà sản phẩm càng vô hình thì vai trò của cá nhân càng quan trọng. Đối với CTCK, do lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, đó là chứng khoán và các dịch vụ về chứng khoán nên sự ảnh hưởng này càng có ý nghĩa lớn.