Chương 1- Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2 - Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và pháp luật bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung Chương 3- Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định về bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam Chương 4 - Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1. Các nghiên cứu lý luận về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung Ở các nước có TTCK phát triển, vấn đề bảo vệ quyền lợi NĐT được quan tâm nghiên cứu từ lâu, tuy nhiên đa phần các công trình chỉ nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi của NĐT nói chung (đặc biệt tập trung vào việc bảo vệ NĐT trong mối quan hệ với các tổ chức phát hành chứng khoán hay với vấn đề quản trị doanh nghiệp) mà ít có các công trình nghiên cứu tổng quát về vấn đề bảo vệ quyền lợi NĐT trên TTCK tập trung. Hơn thế, đa phần các công trình nghiên cứu thường tiếp cận dưới góc độ kinh tế mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ pháp luật.
Các công trình nghiên cứu lý luận về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung dưới góc độ kinh tế Nghiên cứu chung về bảo vệ quyền lợi NĐT có để đến công trình của nhóm tác giả Rafael LaPorta, Florencio Lopez-deSilanes, Andrei Shleifer, Robert W. Vishny đến từ Viện nghiên cứu kinh tế quốc gia (Mỹ) – Nationl Bureau of Economic Research (NBER). Năm 1999, nhóm tác giả đã xuất bản một công trình nghiên cứu tổng quát về bảo vệ NĐT với nhiều bài viết như: Investor protection and corporate governance (Bảo vệ nhà đầu tư và quản trị công ty); Investor protection and corporate valuation (Bảo vệ nhà đầu tư và định giá doanh nghiệp)…[144,145]. Điểm nổi bật của công trình nghiên cứu là chỉ ra được những khác biệt cơ bản trong chính sách tập trung, thâu tóm quyền sở hữu công ty, chia cổ tức và trong việc tiếp cận nguồn vốn bên ngoài của các công ty đại chúng ở một số quốc gia phát triển (công trình sử dụng thông tin của 371 doanh nghiệp lớn đến từ 27 nền kinh tế phát triển).
Qua đó chỉ ra nguyên nhân cơ bản cho những khác biệt này là mức độ pháp luật bảo vệ NĐT, các cổ đông và chủ nợ trước những hành vi của nhà quản lý và các cổ đông nắm quyền kiểm soát công ty. Đồng thời công trình cũng chỉ ra ảnh hưởng của việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số và quyền chi phối dòng tiền (cash flow) của cổ đông có quyền kiểm soát đối với việc định giá doanh nghiệp. Công trình đã đưa ra bằng chứng cho thấy có việc định giá cao hơn 8 luan an đối với các công ty có sự bảo vệ tốt cho cổ đông thiểu số và sự định giá thấp hơn khi các cổ đông lớn có quyền chi phối dòng tiền cao. Cũng nghiên cứu về vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi NĐT tuy nhiên tập trung phân tích vào mối quan hệ giữa bảo vệ quyền lợi NĐT và sự phát triển của nền kinh tế có thể kể đến công trình nghiên cứu Investor Protection, Optimal Incentives, and Economic Growth (Bảo vệ nhà đầu tư, sự thúc đẩy tối ưu và tăng trưởng kinh tế) [150] của nhóm tác giả Rui Castro, Gian Luca Clementi, và Glenn MacDonald.
Công trình nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ giữa vấn đề bảo vệ NĐT và sự phát triển của nền kinh tế. Bằng các phương pháp nghiên cứu kinh tế học, nhóm tác giả đã chứng minh được những tác động tích cực của các chính sách bảo vệ NĐT đối với tăng trưởng kinh tế của các quốc gia (được chứng minh bằng thực tiễn của Ấn Độ và Hàn Quốc). Cùng hướng nghiên cứu này, tuy nhiên bài viết ―Shareholder protection and stock market development, and politics” (Bảo vệ các cổ đông, phát triển thị trường chứng khoán và chính trị) của hai tác giả Marco Pagano & Paolo Volpin tập trung vào mối quan hệ giữa bảo vệ quyền lợi NĐT và sự phát triển của TTCK [141], Bài báo đã trình bày một mô hình kinh tế - chính trị, nơi có sự tác động lẫn nhau giữa vấn đề bảo vệ NĐT và phát triển TTCK, kết quả nghiên cứu khẳng định bảo vệ NĐT tốt hơn khiến cho các công ty phát hành cổ phiếu nhiều hơn, dễ dàng hơn và do đó dẫn đến một TTCK phát triển lớn hơn. Các dự đoán của mô hình được kiểm tra trên bảng số liệu của 47 quốc gia trong giai đoạn 1993-2002.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty và bảo vệ NĐT có thể kể đến cuốn sách Investor protection and corporate governance ” (Bảo vệ nhà đầu tư và quản trị doanh nghiệp) của 2 tác giả Alberto Chong và Florencio López de Silanes[127]. Cuốn sách phân tích ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp đối với hoạt động của công ty và vấn đề bảo vệ NĐT ở các quốc gia Mỹ - Latinh. Cuốn sách đề cập tới các đặc trưng của quản trị doanh nghiệp, cấu trúc quyền sở hữu, chính sách chia cổ tức và các biện pháp thực hiện việc bảo vệ NĐT. Từ đó đưa ra kết luận những doanh nghiệp có biện pháp quản trị tốt hơn sẽ được đánh giá cao hơn và do đó giảm chi phí huy động vốn.
Nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản trị doanh nghiệp cũng khẳng định ý nghĩa của việc bảo vệ NĐT (với vai trò cổ đông của công ty) như một yếu tố đảm bảo cho việc hoạt động hiệu quả, an toàn của doanh nghiệp, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: cuốn sách 9 luan an Essentials of Corporate Governance (Bản chất của quản trị doanh nghiệp) của tác giả Sanjay Anand [151] , H. Kent Baker & Ronald Anderson với tác phẩm Quản trị doanh nghiệp – Lý thuyết, nghiên cứu và thực hành [47]; tác giả Bob Tricker với tác phẩm Corporate Governance: Principles, policities and practices (Kiểm soát quản trị) [7], …. Nghiên cứu tổng quát về vấn đề bảo vệ quyền lợi NĐT tại một TTCK có thể kể đến nghiên cứu của Phòng Nghiên cứu Bolsas y Mercados Españoles – (gọi tắt là BME) (Tây Ban Nha). Năm 2009, BME đã công bố bài viết Close to the investors.
A report on the investor protection in Spain by BME research department (Một báo cáo về bảo vệ nhà đầu tư ở Tây Ban Nha của bộ phận nghiên cứu BME) [129]. Bài viết là một báo cáo nghiên cứu về vấn đề bảo vệ NĐT trên TTCK Tây Ban Nha trong đó tập trung phân tích nguồn gốc việc bảo vệ các quyền của NĐT, các nguyên tắc trong việc bảo vệ quyền của NĐT, vai trò của pháp luật với bảo vệ NĐT, cơ chế bảo vệ NĐT trên TTCK Tây Ban Nha. Điểm nổi bật của bài viết là việc phân tích khá kỹ cách thức thiết lập các bộ phận để bảo vệ NĐT ở Tây Ban Nha và cơ chế vận hành của các bộ phận này. Các bộ phận bảo vệ NĐT ở Tây Ban Nha bao gồm 3 bộ phận chính: the stock market’s Investor Ombudsman (thanh tra NĐT của TTCK) – do Sở giao dịch chứng khoán thành lập, the CNMV’s Customer Service – bộ phận dịch vụ khách hàng của Ủy ban TTCK Quốc gia, the Bank of Spain's Complaints service – bộ phận dịch vụ khiếu nại của Ngân hàng trung ương Tây Ban Nha.
Các bộ phận này có nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp thông tin chính xác và tiếp nhận, giải quyết khiếu nại của NĐT trên thị trường. Một số tài liệu khác cũng gián tiếp đề cập tới tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền lợi NĐT trên TTCK đó là các báo cáo, nghiên cứu, khuyến nghị của Tổ chức Ủy ban chứng khoán quốc tế (IOSCO) mà đặc biệt là bộ Mục tiêu và Nguyên tắc của Quy chế Chứng khoán năm 2003, 2010, 2017 (IOSCO objectives and principles of securities regulation 2003, 2010, 2017) [139,tr3]. Theo đó các nghiên cứu và khuyến nghị này đều xác định bảo vệ NĐT là một trong 3 mục tiêu chính mà các TTCK phải hướng tới khi vận hành (bao gồm: bảo vệ NĐT; đảm bảo thị trường công bằng, hiệu quả và minh bạch; giảm rủi ro hệ thống). Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền lợi của NĐT cũng đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu.
Năm 2004, Tiến sĩ Phạm Trọng Bình đã thực hiện đề tài Bảo vệ quyền lợi của các NĐT trên thị trường cổ phiếu – Thực trạng và giải pháp [6]. Đây 10 luan an là một trong những công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi NĐT trên TTCK nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng. Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi NĐT như: các nguồn xâm hại quyền lợi cổ đông trên TTCK; nội dung, phương pháp bảo vệ NĐT, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề bảo vệ NĐT trên thị trường cổ phiếu…công trình cũng nêu ra thực trạng vấn đề bảo vệ NĐT trong giai đoạn khi TTCK Việt Nam mới ra đời cho đến năm 2004. Công trình đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để điều tra mức độ nhận thức của NĐT về vấn đề bảo vệ quyền lợi của mình.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn bảo vệ quyền lợi NĐT trên thị trường cổ phiếu, nhóm tác giả đã đưa ra một số những biện pháp nhằm tăng cường bảo vệ quyền lợi của NĐT trên TTCK như: Hoàn thiện môi trường chính sách đầu tư vĩ mô; hoàn thiện khung pháp lý; nâng cao năng lực điều hành và giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước; phát triển các tổ chức tự quản; tăng cường quản trị công ty của các công ty niêm yết; tuyên truyền, giáo dục thông tin cho các NĐT…Có thể nói đây là công trình có giá trị quan trọng, đặt nền móng cho quá trình nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi NĐT trên TTCK ở Việt Nam. Cũng đề cập đến bảo vệ quyền lợi NĐT chứng khoán ở Việt Nam tuy nhiên chỉ tập trung vào vấn đề bảo vệ NĐT cá nhân có thể kể đến bài viết ―Bảo vệ quyền lợi của NĐT chứng khoán cá nhân trên TTCK‖ tác giả Lê Thị Thảo [84].