Chương 1 Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có thể kết luận một số nội dung như sau: - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý do Nhà nước cấp cho người sử dụng đất để công nhận quyền sử dụng đất của họ là hợp pháp. Đây là một loại giấy tờ được quy định bởi pháp luật cấp cho đối tượng sử dụng đất khi họ đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật. Là một 18 biểu hiện của quyền lực nhà nước trong việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai. Là một hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mang tính pháp lý và tính chuyên môn nghiệp vụ.
- Pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một phần của pháp luật đất đai Việt Nam, bao gồm toàn bộ các QPPL điều chỉnh các QHXH phát sinh trong lĩnh vực cấp, chỉnh sửa, đính chính và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là phương thức để Nhà nước thực hiện việc quản lý đất đai, theo đó nhà nước không chỉ xác lập trật tự trong cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngăn ngừa tình trạng cấp sai thẩm quyền, cấp bừa bãi không đúng đối tượng. - Từ việc xem xét pháp luật của một số quốc gia điển hình về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có thể thấy đây là điều hết sức cần thiết để chúng ta có thể lựa chọn một mô hình pháp luật phù hợp đặc điểm, tình hình của đất nước, đảm bảo tốt nhất cho sự quản lý nhà nước về đất đai, phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời cũng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế của đất nước. 19 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM 2.
Khái quát về thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam 2. Điều kiện tự nhiên Thành phố Hội An cách thành phố Đà Nẵng 30 km theo đường Tỉnh lộ 607 về phía Bắc và đường ven biển về phía Tây, cách trung tâm hành chính của tỉnh Quảng Nam là 60 km. Tọa độ địa lý : từ 15015’26’’ đến 15055’15’’ vĩ độ Bắc Và từ 108017’08” đến 108023’10’’ kinh độ Đông. Vị trí vùng nghiên cứu THÀNH PHỐ HỘI AN VIỆT NAM Quảng Nam 20 Thành phố Hội An có địa giới hành chính phía Bắc, phía Tây giáp thị xã Điện Bàn; phía Đông giáp biển Đông; phía Nam giáp huyện Duy Xuyên.
Diện tích tự nhiên là 61,7125 km2, trong đó, 9 phường chiếm diện tích 26,9308 km2 và 4 xã diện tích 34,4217 km2. Địa hình, địa mạo: Nhìn chung, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam; toàn bộ Thành phố có 2 dạng địa hình: địa hình đồng bằng và địa hình hải đảo (xã đảo Tân Hiệp). Khí hậu: Chế độ khí hậu thành phố Hội An có đặc điểm của kiểu khí hậu nhiệt đới ven biển miền Trung, mang nét chuyển tiếp giữa 2 vùng khí hậu khác biệt là miền Bắc và miền Nam, thể hiện hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa khô kéo dài trong 8 tháng (từ tháng 2 đến tháng 9), mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau.
Đây cũng là vùng hạ lưu của các hệ thống sông lớn nên thường xuyên bị lũ lụt vào mùa mưa. Nhiệt độ trung bình trong năm là 25,6 0C, lượng mưa trung bình năm là 2066 mm, độ ẩm không khí trung bình năm là 82%. Số giờ chiếu nắng trung bình hàng năm 2158 giờ, còn chế độ gió thì có hai mùa khá rõ, mùa mưa trùng với gió mùa Đông Bắc, mùa khô trùng với gió mùa Tây Nam. Ngoài ra, trong năm còn chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam khá mát, dễ chịu xen giữa các đợt gió Đông Bắc cũng như gió Tây Nam.
Hội An nằm ở cửa biển giống Đà Nẵng nhưng xung quanh là đồng bằng châu thổ sông Thu Bồn nên vào mùa hè nhiệt độ thấp hơn Đà Nẵng. Mùa khô kéo dài, mực nước sông Hội An xuống thấp, nước mặn xâm nhập sâu nên ảnh hưởng đến nguồn nước cung cấp cho người dân. Mùa mưa kéo dài 4 tháng, nước sông dâng cao gây ngập lụt nhiều khu vực của Hội An. Thủy văn: Thành phố Hội An chịu ảnh hưởng chính về chế độ thuỷ văn sông Thu Bồn.
Hạ lưu sông Thu Bồn, đoạn qua Hội An gọi là sông Hội An. Ngoài ra, khu vực thành phố còn có nhánh sông Đế Võng chảy qua. - Sông Thu Bồn có diện tích lưu vực 10.590 km2 với tổng lưu lượng 21 19,9 tỷ m3/năm, đoạn chảy qua thành phố Hội An là 8,5 km, rộng 200 m, diện tích lưu vực là 3.510 km2, lưu lượng nước bình quân là 232 m3/giây, lưu lượng lũ bình quân là 5.430 m3/giây, mực nước bình quân mùa lũ là 2,48 m và mực nước ứng với lưu lượng kiệt là 0,19 m. - Sông Đế Võng: đoạn chảy qua thành phố trên 7 km, chiều rộng từ 80 đến 100 m, biên độ triều chênh lệch không đáng kể khoảng 0,5 m, dòng chảy tương đối điều hoà nhưng do lưu tốc nhỏ là nguyên nhân gây bồi cạn trong sông.
- Thuỷ triều: biển Hội An chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ triều của vùng biển Trung Trung Bộ, mỗi ngày thuỷ triều lên xuống 2 lần (bán nhật triều). Biên độ dao động của triều trung bình là 0,6 m. Về mùa khô, do nước sông xuống thấp, nước biển thâm nhập sâu vào lục địa gây mặn ảnh hưởng lớn cho vấn đề dân sinh, kinh tế. Tài nguyên thiên nhiên - Tài nguyên đất: Theo kết quả điều tra, thành phố gồm có 5 nhóm đất chính: Nhóm đất cát: được hình thành do kết quả lắng đọng trầm tích từ thượng nguồn sông Thu Bồn, có diện tích 1705,11 ha chiếm 27,63% tổng diện tích tự nhiên của thành phố, bao gồm 2 loại: đất cồn cát trắng vàng và đất cát biển.
Phân bố chủ yếu ở xã Tân Hiệp, xã Cẩm Hà, phường Cẩm Phô, phường Sơn Phong, phường Cẩm An và phường Minh An. Nhóm đất mặn: được hình thành do quá trình bồi lắng sản phẩm bị rửa trôi từ thượng nguồn kết hợp với xác sinh vật ven biển, có diện tích 1793,36 ha chiếm 29,06% tổng diện tích tự nhiên của thành phố. Phân bố chủ yếu ở xã Cẩm Thanh, xã Cẩm Hà, xã Cẩm Kim, phường Cẩm Châu. Nhóm đất phù sa: được hình thành do bồi đắp phù sa của hệ thống sông Thu Bồn, có diện tích 854,72 ha chiếm 13,85% tổng diện tích tự nhiên của thành phố, bao gồm 3 loại: đất phù sa được bồi hằng năm, đất phù sa không 22 được bồi hằng năm.
Phân bố chủ yếu ở xã Tân Hiệp, xã Cẩm Hà, xã Cẩm Thanh, xã Cẩm Kim, phường Cẩm Phô, phường Sơn Phong, phường Cẩm Châu và phường Minh An. Nhóm đất dốc tụ: được hình thành do quá trình rửa trôi xói mòn đất đồi núi và tích tụ lại khu vực thấp, có diện tích 14,81 ha chiếm 0,24% tổng diện tích tự nhiên của thành phố, phân bố chủ yếu ở chân núi Cù Lao Chàm thuộc xã Tân Hiệp. Nhóm đất xám phát triển trên đá mácma axit: được hình thành trên sản phẩm phong hóa của đá granit giàu thạch anh, có diện tích 1803,24 ha chiếm 29,22% tổng diện tích tự nhiên của thành phố, phân bố chủ yếu ở xã Tân Hiệp. - Tài nguyên nước: Nước mặt: có các sông Thu Bồn, sông Cổ Cò, Sông Đế Võng trong đó sông Thu Bồn là một trong những nguồn cung cấp nước quan trọng với lưu lượng tới hàng tỷ mét khối nước mỗi năm.
Nước ngầm: Vùng ven sông có nước ngầm mạch nông và thường bị nhiễm mặn. Các vùng cách xa biển thường có nước ngầm mạch sâu, không bị nhiễm mặn và không ảnh hưởng đến nền móng công trình xây dựng đến độ sâu 10 m. - Tài nguyên rừng: Quần đảo Cù Lao Chàm với hệ sinh thái rừng có gần 600 ha rừng đặc dụng nguyên sinh. Trong đất liền, rừng chủ yếu là cây trồng chắn gió bão ven biển và một số loại cây trồng lấy gỗ, lấy củi, như tre, dừa nước, đào,.
- Tài nguyên nhân văn: 1) Di sản văn hóa phi vật thể: Lễ hội Bài chòi, Cầu Ngư, Cầu Bông, lễ rước Long Chu của các làng Cẩm Phổ, Hội An, Tân Hiệp; Làng mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà, Làng yến Thanh Hà, Làng rau Trà Quế,. 2) Di sản văn hóa vật thể: Hiện có 1.429 di tích, danh thắng, trong đó có 1.329 di tích kiến trúc nghệ thuật: nhà ở, cầu cống, chợ, đình, chùa, lăng 23 miếu, hội quản, nhà thờ tộc, mộ. Điều kiện kinh tế - xã hội Trong những năm qua nền kinh tế của Hội An tăng trưởng ở mức cao và khá toàn diện. Tổng sản phẩm nội địa GDP (theo giá hiện hành) của thành phố tăng bình quân hàng năm 14,53%, năm 2019 ước đạt hơn 2156 tỉ đồng.
- Thương mại, du lịch, dịch vụ: Dịch vụ-Du lịch-Thương mại giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của thành phố, chiếm 59,70% tỉ trọng GDP của thành phố, trong đó dịch vụ tăng 14,38%, du lịch tăng 33,96%, thương mại tăng 22,09% so với năm 2018. Giá trị sản xuất (GO) toàn ngành năm 2019 đạt gần 2.583 tỉ đồng, tăng hơn 470 tỉ đồng so với năm 2018. - Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng: CN – TTCN - XD của thành phố chủ yếu trên các lĩnh vực: sản xuất, chế biến gỗ lâm sản, hàng lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, dệt may, sợi. Năm 2019 GDP toàn ngành chiếm tỉ trọng 25,31%, trong đó CN-TTCN tăng 6,20%, xây dựng tăng 19,10%.
Giá trị sản xuất (GO) toàn ngành năm 2019 đạt 1.683,3 tỉ đồng, tăng hơn 196 tỉ đồng so với năm 2018 - Nông, ngư nghiệp: Ngư nghiệp - Nông nghiệp chủ yếu phát triển ở vùng ngoại ô, vùng nông thôn của thành phố. GPD chung toàn ngành tiếp tục giảm tỉ trọng theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố năm 2019 chiếm 14,99% giảm 2,09% so với năm 2018. Nông nghiệp 14,99% Dịch vụ Công nghiệp 57,90% 25,31% Biểu đồ 4.1 Cơ cấu các ngành kinh tế của Hội An năm 2019 (Nguồn: [ ]) 24 - Dân số, lao động, việc làm và thu nhập: Tổng dân số thành phố Hội An tính đến cuối năm 2019 là 90.494 người; mật độ dân số trung bình đạt là 1.466 người/km2, trong đó khu vực nội thị có mật độ dân số trung bình khá cao 2.