CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ RỪNG ĐẶC DỤNG 1. Khái quát về bảo vệ rừng đặc dụng 1. Khái niệm bảo vệ rừng đặc dụng 1. Khái niệm rừng: Những năm đầu thế kỷ XX, tồn tại các quan điểm khác nhau về rừng.Quan điểm thứ nhất, của các nhà khoa học Liên Xô, coi rừng là một quần địa sinh lạc (biogeocenose).Trong tác phẩm “Học thuyết về rừng” (1912) G.
Morozov đã định nghĩa như sau “rừng là những quần xã cây gỗ, trong đó chúng biểu hiện các ảnh hưởng qua lại lẫn nhau làm nảy sinh ra những hiện tượng mới mà những cây mọc đơn lẻ không có. Trong quần lạc sinh địa rừng không chỉ có mối quan hệ qua lại giữa các cây rừng với nhau mà còn có mối quan hệ qua lại giữa chung với đất và môi trường không khí; rừng có khả năng tự phục hồi”. Phát triển học thuyết này, V. Sucachev (1964) đã cho rằng rừng là một quần lạc sinh địa và “quần lạc sinh địa rừng là một khoảnh đất bất kỳ có sự đồng nhất về thành phần, cấu trúc và các đặc điểm của các thành phần tạo nên nó và về mối quan hệ giữa chúng với nhau, có nghĩa là đồng nhất về thực vật che phủ, về thế giới động vật và vi sinh vật cư trú tại đó về các điều kiện tiểu khí hậu, thủy văn và đất đai, về các kiểu trao đổi vật chất và năng lượng giữa các thành phần của nó với nhau và với các hiện tượng tự nhiên khác”.
Có thể hiểu quần lạc sinh địa gồm năm thành phần: khí hậu, đất, quần lạc thực vật, quần lạc động vật và quần lạc vi sinh vật. Mối quan hệ qua lại giữa khí hậu và thổ nhưỡng hình thành nên hoàn cảnh sinh thái. Mối quan hệ giữa các thành phần thực vật, động vật và vi sinh vật tạo nên hoàn cảnh sinh vật. Mỗi hoàn cảnh sinh thái sẽ có một hoàn cảnh sinh vật nhất định và mối liên hệ giữa hoàn cảnh sinh vật và hoàn cảnh sinh thái sẽ tạo nên một đơn vị sinh học cơ bản trong giới tự nhiên, đơn vị này được gọi là quần lạc sinh địa.
Và theo các nhà khoa học nghiên cứ theo quan điểm này, một quần lạc sinh địa chỉ được coi là rừng khi quần lạc thực vật là 7 cây gỗ lớn chiếm ưu thế và chi phối các thành phần khác trong toàn bộ quần lạc sinh địa đó [22 ,tr. Ngày nay, quan điểm này không còn được sử dụng nhiều trong các văn bản hay tài liệu nghiên cứu khoa học trên thế giới. Quan điểm thứ hai, của các nhà khoa học phương Tây, coi rừng là một hệ sinh thái. Tansley là người đầu tiên đề cập đến khái niệm hệ sinh thái vào năm 1935, “mặc dù các cơ thể sống luôn có xu hướng muốn tách khỏi môi trường sống để dành được sự chú ý đặc biệt, nhưng thực tế các cơ thể sống không thể tách khỏi môi trường mà chúng phải cùng với môi trường sống đó hợp thành một thể thống nhất vật lý – sinh học thống nhất.
Những hệ thống này là những đơn vị cơ bản của tự nhiên và được gọi là hệ sinh thái ”. Quan điểm này đã được các nhà khoa học như Linderman (1942), C. Odum (1971,1975) và Whitetaker (1975)…phát triển và hoàn thiện sau này. Các nhà khoa học này đều coi hệ sinh thái là đơn vị chức năng cơ bản trong sinh thái học, trong đó bao gồm các thành phần tự sinh vật và các hoàn cảnh vô sinh, giữa các thành phần đó luôn có ảnh hưởng qua lại đến nhau và đều cần thiết để giữ gìn sự sống dưới dạng như đã tồn tại trên trái đất.
Tương tự như quan điểm về quần lại sinh địa, một hệ sinh thái được gọi là hệ sinh thái rừng khi các thành phần thực vật trong đó bao gồm những cây thân gỗ (hoặc các loài cây họ tre nứa, cau dừa…) sống lâu năm, có mật độ đủ lớn để chi phối các hoạt động trao đổi vật chất và tích lũy năng lượng của hệ sinh thái đó tạo ra một môi trường sinh thái bên trong hoàn toàn khác biệt [22,tr. Hai quan điểm trên giống nhau về bản chất, đó là coi quần lạc sinh địa hay hệ sinh thái là một đơn vị cơ bản của tự nhiên, có cấu trúc thành phần giống nhau. Tuy nhiên, theo quan điểm rừng là hệ sinh thái, các nhà khoa học nhấn mạnh hơn đến tính thống nhất trong các chu trình dinh dưỡng và năng lượng. Vì thế, việc coi rừng là một hệ sinh thái không chỉ nhấn mạnh tới vai trò của các thành phần sống và không sống hay thuần túy về các mối quan hệ giữa chúng mà còn thấy một các rõ nét hơn về năng suất sinh học của hệ sinh thái đó.
Ở trong hệ sinh thái rừng, không ngừng diễn ra sự trao đổi vật chất, năng lượng và xảy ra các quá trình cạnh tranh sinh tồn giữa cây gỗ, xuất hiện những cây mới, do đó, rừng là một hệ thống có thể 8 tự điều hòa. Cây rừng có khả năng tái sinh, tuy nhiên, sự tái sinh của rừng không phải là vô tận, nếu con người không biết khai thác và bảo vệ hệ sinh thái rừng một cách thận trọng, phù hợp với nguồn gốc phát sinh, xu thế phát triển, với quy luật tự điều hòa của rừng thì rừng sẽ không tự phục hồi và trở thành tài nguyên không tái tạo được. Ngày nay, rừng trở thành thực thể hết sức quan trọng tới cuộc sống, đến sự tồn tại của con người, rừng chi phối và tác động tới nhiều môi trường xung quanh như đất, nước, không khí, các định nghĩa về rừng được định lượng một cách rõ ràng. Để hướng dẫn đo đạc và công bố độ che phủ rừng mỗi nước, trong Báo cáo FRA năm 2015, FAO đã định nghĩa rừng như sau: Rừng là một diện tích đất rộng hơn 0.5 hec-ta với cây cao hơn 5 mét, có tán bao phủ hơn 10 phần trăm, hoặc cây có thể vươn tới ngưỡng đó trong những điều kiện đặc biệt, không bao gồm đất mà trong đó, phần lớn thuộc về đất nông nghiệp hay đất thành thị…[16].
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế đưa ra định nghĩa, giống như FAO, được Thang Hooi Chiew (2006) tiếp nhận như sau: “Đất phải rộng trên 0,5 héc-ta, với chiều cao của các cây hơn 5m và độ che phủ hơn 10 phần trăm hoặc các cây có khả năng đạt đến ngưỡng nguyên vị của nó. Điều này không bao gồm đất mà phần lớn đang sử dụng đất đô thị hoặc nông nghiệp. Các cây có khả năng đạt đến độ cao tối thiểu là 5 mét. Những diện tích đang khôi phục mà chưa đạt được nhưng hy vọng sẽ đạt độ che phủ 10 phần trăm thì được chấp nhận và bao gồm cả các cây có chiều cao 5 mét…”[33].Như vậy, theo quan điểm chung của các tổ chức quốc tế, để xác định rừng cần phải căn cứ các yếu tố: đất rừng, cây rừng và độ che phủ của cây rừng, đất rừng trải dài rộng ít nhất 5 héc-ta, chiều cao tối thiểu của cây rừng là 5 mét và độ che phủ của rừng là 10 phần trăm diện tích đất rừng.
Trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam, định nghĩa về rừng được đưa ra lần đầu tiên trong Luật BVPTR năm 1991, “rừng bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có liên quan đến rừng”[44, Điều 1].Trải qua quá trình phát triển, Luật BVPTR năm 2004 đã đưa ra khái niệm về rừng hoàn thiện hơn, tiếp cận hài hòa hóa 9 được khái niệm về rừng của Việt Nam với khái niệm về rừng của FAO: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng” [45, Điều 3]. Như vậy, theo định nghĩa pháp quy về rừng trên đây, rừng có một số các đặc điểm sau: Thứ nhất, là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác. Việc khẳng định rừng là hệ sinh thái đã giúp khái quát nên mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ sinh thái đó như thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật, đất rừng…dù định nghĩa không đề cập mối quan hệ đó.
Thứ hai, thành phần chính của rừng là cây thân gỗ, tre, nữa, cây họ cau hoặc hệ thực vật đặc trưng khác. Hệ thực vật đặc trưng là một khái niệm mang tính mở rộng, nó được dùng để chỉ các quần thể thực vật đang trong quá trình hình thành rừng hoặc chỉ những nhóm thực vật rừng đặc thù như rừng ngập mặn, hệ sinh thái rừng thông…. Việc nhấn mạnh về các quần thể thực vật khẳng định vai trò của các quần thể thực vật sẽ tạo nên sự khác biệt giữa các hệ sinh thái rừng. Thứ ba, độ tàn che phủ từ 0.
Trong đó, độ tàn che được hiểu là mức độ che kín của tán cây rừng theo phương thẳng đứng trên một đơn vị diện tích rừng được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười, tỷ lệ che phủ rừng là tỷ lệ phần trăm giữa diện tích rừng so với tổng diện tích đất tự nhiên trên một phạm vi địa lý nhất định. Định nghĩa về rừng tại Luật BVPTR năm 2004 khá đầy đủ, tuy nhiên định nghĩa này vẫn bộc lộ một số nhược điểm như: việc xác định rừng là một hệ sinh thái, chưa làm rõ quy mô hay diện tích tối thiểu của hệ sinh thái này là bao nhiêu. Ngoài ra, định nghĩa về rừng trong Luật BVPTR năm 2004 mới chỉ đề cập thành phần chính của rừng là cây rừng các loại và độ tàn che (mức độ che phủ của tán cây rừng), chưa quy định tiêu chí về cây rừng [1].